Lần đầu tiên Vân tận mắt chứng kiến một người chết cách đây hơn một năm lúc còn ở Việt Nam. Chứng kiến một người chết, có nghĩa là nhìn người ấy đang từ cõi sống đột ngột bước sang thế giới bên kia. Đó là ông Thọ ở cách nhà Vân ba căn trên cùng con hẻm nhỏ thuộc phường 10 quận Tân Bình.
Chẳng phải vì là hàng xóm mà Vân quen ông, láng giềng thật xa mỗi người có một cuộc sống nên cũng ít khi gặp nhau huống chi ông lại hơn Vân quá nhiều tuổi. Nếu xưng hô cho đúng thì Vân phải gọi ông bằng chú. Nhưng sỡ dĩ Vân thân với ông chỉ vì ông là tài xế xe bus trên lộ trình từ nhà Vân đến sở làm. Dù muốn dù không, ngày nào Vân cũng phải gặp ít nhất một lần vào buổi sáng.
Có một dạo xe bus là phương tiện chuyên chở công cộng rất đắt khách, chuyến nào cũng chật ních. Nhưng khi VN chuyển sang kinh tế thị trường thì dân Sài Gòn nườm nượp mua xe gắn máy. Lại thêm xe ôm phát triển, xe bus dần dà trở nên ế ẩm vì đi lại chậm chạp trên đường phố đông đúc mà ít ai tôn trọng luật lưu thông.
Chỉ có những hành khách không có phương tiện khác như Vân mới bất đắc dĩ phải bám với xe bus mà thôi. Xe vắng khách, nên mỗi khi thấy Vân bước lên, ông Thọ thường vui vẻ hỏi chuyện vu vơ mặc dù trên nguyên tắc, ông không được nói chuyện khi lái xe. Vân cũng hân hoan đáp lại, chọn cái ghế trống gần ông để đàm đạo cho quên đoạn đường tới sở. Đại khái thì toàn những câu xã giao thủ tục thôi, lâu lâu nếu trong con hẻm nhà Vân có chuyện gì bất thường xảy ra thì hai người mới có đề tài mới để bình luận.
ông Thọ không có vợ con, sống nhờ nhà người anh ruột, nhập chung hộ khẩu và coi gia đình người anh như gia đình mình. ở tuổi bốn mươi lăm, mặt ông khắc khổ ưu tư, nước da đen sạm và mái tóc phía trước hơi dài lúc nào cũng rũ xuống trán làm Vân thấy rất ngứa mắt.
ông ít cười, dù nụ cười rất tươi. Hàm răng đều như hạt bắp, phải cái tội là lúc nào cũng úa vàng vì khói thuốc. ông ghiền thuốc lá nặng ,trong túi lúc nào cũng có gói Mai, loại thuốc đen nội hóa ít người hút. Mỗi khi đường kẹt xe, ông thường chạy xuống rít một điếu hoặc có khi chỉ vài hơi rồi lại leo lên lái tiếp. Dân Sài Gòn hút thuốc nhiều, nên chẳng ai thấy ngứa mắt và cũng không thấy khó chịu vì khói thuốc.
Một buổi sáng trên đường đi làm như thường lệ, Vân ngồi ngay chiếc ghế sau lưng ông, đang kể câu chuyện bắt ghen trong xóm, và xe đang chạy ngon trớn, thì Vân bổng giật mình thấy xe bus tự dưng rẻ nghiêng sang bên phải, rồi leo hẳn lên lề, húc mạnh vào một gốc cây rồi dừng lại. Xe vẩn nổ máy, nhưng ông Thọ gục xuống trên tay lái làm còi xe cứ inh ỏi réo liên tục. Cũng may, gặp khúc lề đường rộng lại có cây lớn chặn lối nên xe không cán phải người bộ hành hoặc đâm vào nhà người ta.
Hành khách nhốn nháo đứng ngồi cả lên, Vân lay vai ông Thọ và hốt hoảng hỏi:
- Ý thôi chết, lạc tay lái hả ông Thọ? Tỉnh dậy ông Thọ !
Nhưng lay mãi mà ông không trả lời, hành khách xôn xao đưa mắt nhìn nhau rồi bỏ xuống tìm phương tiện chuyên chở khác vì sợ trể giờ làm việc. Vài người hiếu kỳ phần lớn là khách quen ngày ngày vẩn đi cùng chuyến này xúm lại cùng với Vân lôi đầu ông Thọ ngồi thẳng lên, lập tức tiếng còi xe ngưng bặt. ông Thọ ngẻo đầu sang một bên, mặt xám ngắt, miệng hơi há ra và đôi mắt lạc thần vẫn mở trừng trừng nhưng rõ ràng là mất hết sinh khí.
ông đứng tim chết mà người ta xét theo lối dân gian là ông bị trúng gió, và không ai tin là ông đã chết thật bởi nó xảy ra quá đột ngột. Vân lo lắng nhìn quanh và hỏi:
- Ơ...Có ai có dầu nhị thiên đường không?...Dầu gì cũng được...Cho tôi mượn.
Đám đông xung quanh mỗi người một câu:
- Trời...trời, ông bà nào chịu khó chạy lên ngả tư thấy ông công an, kêu dùm một cái Người khác bảo:
- Kêu xe cứu thương chứ chờ công an đến kiếp nào...
Người ta giật tóc mai, lắc mạnh hai vai ông, hoặc ấn mạnh vào ngực ông, hy vọng có thể giúp ông hồi tỉnh trong lúc chờ vào nhà thương. Nhưng tất cả đều vô ích, có người thất vọng than:
- Thôi ! Chắc chết rồi, chết thiệt rồi. Trăm phần trăm là trúng gió rồi. Trời đất ơi ! Lúc này gió nó độc lắm nghen.
Cùng với nhận xét ấy, người ta tản mác xuống xe, lảng ra xa, tránh những phiền toái lát nữa khi nhân viên công lực đến thẩm vấn. Nhưng Vân không bỏ đi được, không nở bỏ ông hàng xóm, bởi nàng vẫn bám víu ý nghĩ là ông chưa chết hẳn, chỉ bất tỉnh nhân sự mà thôi.
Nàng xuống xe, mặt nhợt nhạt ngó quanh, rồi vẫy chiếc xích lô máy rồi nhờ người tài xế lên đỡ ông Thọ xuống và chở vào bịnh viện. Nàng bảo:
- Nhanh nhanh thì may ra cứu kịp nhé ! Chắc ông ấy chỉ bị nghẹt thở thôi, chưa có chết hẳn đâu.
Rồi nàng móc bóp lấy tiền trả ông xích lô, nhưng ông xích lô ngơ ngác nhìn Vân và hỏi: - Bộ cô không đi với ông ấy sao? Đâu có được, cô không có đi chung thì tôi không có chở ông ấy đâu ! Giỡn hoài, bộ tôi ngu sao?
Vân khẩn khoản:
- Ông ơi, tội nghiệp người ta bị ngất xỉu ,ông làm ơn đưa vào nhà thương dùm. Tại tôi....tôi còn phải đi làm.
ông xích lô trợn mắt đáp:
- Ngất xỉu đâu mà ngất xỉu? Chết ngắt rồi, tôi đưa vào bệnh viện, người ta hỏi lôi thôi lắm cô ơi. Phải có người nhà mới biết đường mà trả lời chứ !
Vân nhìn ông Thọ một lần nữa, quả thật ông chết rồi. cái xác không hồn, nằm rũ trên xích lô, đầu nghiêng sang một bên. Mắt vẫn trợn trừng, và mồm vẫn há ra. Nàng bảo ông xích lô:
- Nhưng mà tôi cũng đâu phải là người nhà !
ông xích lô vừa kinh ngạc, vừa bực bội, giậm chân lắc đầu lia lịa, ông toan chửi thề, nhưng nhớ rằng trước mặt phụ nữ, nên gắt lên:
- Cô không phải là người nhà của ông ấy thì mắc mớ gì cô đòi đưa ông ấy vào nhà thương? Con người sao khờ quá ! Rồi công an hỏi cung về cái chết của ông ấy, rồi cô trả lời làm sao?
Vân cũng vừa chợt nhận ra mình tự mang cái ách giữa đàng vào cổ, nhưng một phần vì là người quen, một phần thì bây giờ cũng đã lỡ rồi làm sao rút lui được? Nàng cứ tưởng ông chỉ ngất xỉu nên mới động lòng tìm cách cứu chữa gọi xích lô đưa vào bịnh viện. Không ngờ ông đã về bên kia thế giới.
Từ lúc nghe ông xích lô xác quyết là ông Thọ đã chết, tự dưng chính Vân cũng thấy rờn rợn và không dám nhìn mặt ông nữa. Nhưng bây giờ biết làm sao, khách bộ hành đi ngang hiếu kỳ bu lại mỗi lúc một đông hơn vì ông xích lô khua chân, múa tay nói quá lớn, ông chán nản bảo Vân:
- Cà chớn ! mới sáng sớm đã gặp xui. Bây giờ cô phụ tôi khiêng ổng lên, bỏ lại trên xe bus đi rồi ai muốn làm gì thì làm. Tôi không có dính vào vụ này.
Dứt lời, ông xách nách xác chết và bảo Vân đỡ hai chân ông Thọ. Vân ngần ngại đứng yên, ông xích lô phải nạt lớn nàng mới chịu bắt tay vào khệ nệ khiêng cái xác không hồn lên xe bus, đặt vào sau tay lái. Rồi ông xích lô lao phắt xuống đường lên xe phóng vội đi miệng còn lào nhào chửi Vân là đồ ngu.
Vân xuống xe đứng phân vân bên lề đường không biết nên bỏ đi hay chờ cảnh sát tới để tường trình. Đám đông bu quanh mỗi người hỏi một câu, Vân lơ đãng trả lời rồi quyết định đón honda ôm về báo tin cho gia đình ông Thọ biết và vào nhà thương làm thủ tục nhận xác của ông chôn.
Định mệnh xắp đặt khiến ông chết đột ngột và tình cờ Vân lại là người đầu tiên chứng kiến cái chết bất ngờ của ông giữa lúc ông đang nói chuyện với nàng. Cách đây hơn một tháng Vân có khoe với ông là nàng đang chờ sang Canada định cư do người anh bảo lảnh. ông Thọ chớp mắt bảo:
- Mừng cho cô Nhưng rõ ràng, giọng ông có một chút buồn tủi cho thân phận mình, ước mơ xuất ngoại mà không có con đường nào. ông bảo Vân:
- Tôi cũng có nghe nói cô sắp ra nước ngoài, người ta bảo vì vậy cô nhất định chưa chịu lấy chồng.
Vân cười rồi nói lại:
- Trước khi tôi đi thì thế nào gia đình tôi cũng làm tiệc giã từ bà con lối xóm mà. Mời ông sang cho vui với gia đình tôi nhé !
- Vâng, quý hóa quá ! Cô nghĩ đến tôi là tôi mừng rồi. Tôi thì phải qua tiễn chân cô chứ ! Câu chuyện tưởng như mới hôm qua, Vân chưa lên đường, chưa kịp làm tiệc mời ông Thọ thì ông đã về bên kia thế giới, Vân chạy về nhà báo tin, rồi cùng người anh ông Thọ lãnh ông từ nhà xác về, mua đất chôn ở nghĩa trang Tân Việt, gần Bà Quẹo.
Vân có mặt từ đầu đến cuối, từ lúc tẩm liệm cho tới khi hạ huyệt. Đám tang ông Thọ thưa thớt lại gặp ngày mưa to gió lớn, nghĩa trang ở vào khu đất trũng, nước ngập mênh mông. Quan tài thả xuống huyệt cứ nổi lềnh bềnh khiến người ta phải dùng gậy dí hai đầu xuống để lấp đất. Mà lấp bao nhiêu đất ,đất biến ngay thành bùn theo nước trôi đi, người nhà vất vả lắm, ông Thọ mới chịu an lòng.
- o O o -
Gần một năm sau, Vân lên đường sang Canada, tạm thời ở chung với gia đình người anh đã bảo lảnh, tên là Hiếu, có vợ ba con tại Toronto. Hiếu mới mua nhà trước khi Vân qua, căn nhà mới, ở vùng ngoại ô phía bắc toronto, nằm trong khu vực vừa khai phá, giá tương đối rẻ và đất xung quanh còn rất khoảng cách. Phía sau nhà Hiếu cách một bải trống mọc đầy cỏ hoang rồi mới tới bìa rừng. Bải đất trống ấy cũng nằm trong kế hoạch xây cất tư gia hoặc chung cư, nhưng vì tạm thời kinh tế xuống, ngành địa ốc suy thoái nên người ta khựng lại bỏ không.
Gia đình Hiếu có năm người, nhưng hai đứa con đầu vừa lên đại học và đi ở xa, ở nội trú luôn trong trường. nên nhà chỉ còn hai vợ chồng với cô con gái út mười bốn tuổi. Vợ chồng Hiếu chiếm ngụ cái phòng ngủ chính trên lầu, đứa con gái cũng có buồng ngủ riêng bên cạnh. Dưới nhà bên cạnh buồng tắm, có một phòng nhỏ dành cho Vân, sát bức tường phía sau, có cửa sổ trông ra bải đất trống quạnh hiu.
Ngày ngày nhìn cảnh tượng hoang vu vắng lặng sau nhà, Vân còn đang nhớ Sài Gòn da diết thì bà chị dâu đã xa gần giục chồng kiếm việc cho Vân. Thật ra thì chẳng cẩn phải chị phải giục, chính Hiếu cũng đang để ý tìm việc cho Vân để nàng có thêm tiền chi dụng, và nhất là để vợ Hiếu khỏi cằn nhằn. Hai vợ chồng Hiếu cùng đi làm cả, cho nên vợ Hiếu rất ngứa mắt khi thấy Vân qua đây mà cứ ngồi im trong nhà.
Ba tháng sau thì Hiếu tìm được việc cho em gái ở một tiệm cà phê Dolnad mở 24 tiếng một ngày, tiệm nằm ở khu vực downtown, nghĩa là trung tâm của thành phố Toronto. Họ cho Vân làm ca đêm, bắt đầu từ 11 giờ đến 7 giờ sáng. Hiếu an ủi em:
- Thôi ! Cứ chịu khó làm tạm đi, rồi một thời gian sau sẽ đổi sang ca ban ngày. Họ có hứa với tao như vậy. Ca đêm thì buồn ngủ, nhưng mà bù lại thì ít khách hơn ban ngày.
Vân vui vẻ đáp:
- Em có ngại gì đâu, ngồi nhà chán chết.
Hiếu tỉ mỉ dặn dò Vân những kinh nghiệm làm việc nơi xứ lạ để em khỏi bở ngở, rồi Hiếu chỉ dẩn cho Vân cách đón xe đi làm.
Vì là khu tân lập ngoại ô nên trước cửa nhà Hiếu tuy đường xá mới mẻ nhưng chưa có xe bus, Vân sẽ phải đi bộ một khoảng khá xa để ra con lộ chính lấy xe bus đưa nàng tới trạm Metro. Rồi khi từ trạm Metro trồi lên, nàng sẽ lại phải đón thêm một chuyến bus nữa mới đến downtown, chỗ nàng làm việc. Hiếu dự trù vài tháng nữa, sẽ bắt Vân đi học lái xe, sắm chiếc xe hơi cũ, cho em gái đỡ vất vả.
Hiếu lấy thêm chìa khóa nhà trao cho em rồi cẩn thận bắt em ghi số phone nhà, số phone tiệm Dolnad và số phone chỗ Hiếu làm việc, cất kỹ vào bóp để lúc cần thì liên lạc, nhất là lúc chẳng may Vân bị lạc đường. Hiếu bảo:
- Mày đi làm ca đêm cũng khoẻ, sáng khỏi phải dậy sớm, ban ngày tha hồ mà ngủ. Đường sá không kẹt xe, bus rộng rãi, khỏi phải đứng mỏi chân. Vân biết ông anh vì tội nghiệp mình nên cứ phải tìm cách an ủi, nàng che dấu nét xúc động và bảo:
- Anh khỏi phải lo, việc lgì em làm cũng được mà, ở Vn em quen vất vả. Với lại đi làm học tiếng anh còn nhanh hơn học trong sách nữa.
Sáng hôm sau, Vân dậy sớm hơn thường lệ dù mãi đến tối mới phải đi làm. Ngày đầu nhận việc, nàng hồi hộp không ngủ yên giấc, nàng lục đục một lúc rồi vợ chồng Hiếu mới từ trên lầu bước xuống. Bà chị dâu hôm nay nhìn Vân âu yếm hơn vì nàng đã có việc, không ngồi chơi, ăn bám như ba tháng vừa qua. Việc của Vân tuy lương chẳng có bao nhiêu, nhưng chính Vân cũng mừng thầm trong bụng bởi từ nay khỏi phải nhìn nét mặt hầm hầm đi ra đi vào lườm nguýt của chị dâu.
Hai vợ chồng Hiếu chuẩn bị đi làm sớm, đứa con gái đáng lẽ chưa cần đi gấp, nhưng tiện xe của bố mẹ, nên cũng ké luôn tới trường, khỏi phải cuốc bộ. Nhà chỉ còn mình Vân ngồi ăn sáng, nàng dự định sẽ ngủ thêm một giấc nữa rồi dậy nấu cơm cho cả nhà ăn chiều. Riêng Hiếu thì cứ nằng nặc bảo Vân phải ngủ một giấc dài, phải đến gần giờ đi làm hẳng thức.Vân gật đầu đồng ý, nhưng lúc cả nhà đi rồi, nàng chỉ ngồi coi tivi hoặc thơ thẩn ra trước nhà rồi lại vô làm bếp, muốn ngủ, cũng không ngủ được.
Buổi tối hôm ấy cơm nước xong, cả nhà ngồi coi tivi một lúc, rồi Vân chuẩn bị đi làm. Muốn chắc ăn, nàng ra khỏi nhà lúc 9 giờ rưỡi mới không sợ trễ giờ. Trời cuối tháng 11 bắt đầu se lạnh và mau tối. Mới khoảng 5 giờ chiều là đã thấy âm u xám ngắt, có năm Toronto giờ này tuyết đã trắng xóa. Năm nay trời khô, nhưng gió buốt, nhất là quanh nhà Hiếu còn quá nhiều bải đất trống.
Vân mặc quần jean, hai ba lớp áo trong áo ngoài, cổ quấn khăn, chân đi giày bata, tay cầm cái túi đựng thức ăn và dăm ba đồ lặt vặt. Nàng lầm lũi lội bộ qua mấy khúc đường vắng tanh tăm tối rồi mới đến con lộ chính. Đúng như Hiếu nói, giờ này người và xe đã vơi hẳn nên ở trạm bus chỉ có một hành khách đang đợi, đó là một bà người Canada, ngồi trên ghế băng trong nhà lồng kiếng, sốt ruột nhìn về hướng xe bus tới.
Vân cũng bước hẳn vào trong nhà kiếng để tránh gió, nàng gật đầu chào bà cụ, rồi ngồi xuống bên cạnh và cùng quay mặt về hướng xe sẽ đến. Khoảng hơn 5 phút thì nàng vui mừng thấy xe bus hiện ra xa xa mờ mờ với ánh đèn đường. Nàng vội đứng dậy, bước hẳn ra ngoài, bà cụ cũng bước theo Vân, co ro đứng sát lề. Vân ngước nhìn con số khá lớn ghi trên đầu xe và hài lòng gật đầu vì đúng số xe mà Hiếu đã dặn. Mới đi xe bus lần đầu, nàng rất sợ lầm lộ trình rồi không biết cách nào mà quay về. Chiếc xe bus nặng nề lăn bánh tới và tách vào lề, Vân đứng trước, một tay xách túi đồ ăn, một tay cầm sẳn hai đồng bạc cắt. Bà cụ đứng sau lẩm bẩm nói một mình thứ tiếng Anh pha giọng ý rất khó nghe. Xe bus vừa mở cửa, Vân hăm hở bước lên bổng nàng giật mình sửng sốt kêu lên, đứng khựng lại và run rẩy muốn té quỵ xuống đất bởi vì người tài xế xe bus chính là....ông Thọ ngay trước mặt nàng. Giờ này ông lại ngồi sau tay lái bên Canada, quay đầu nhìn Vân cười rạng rỡ. Cái khác duy nhất giữa ông Thọ lúc trước và ông Thọ lúc này chỉ là da mặt ông không đen xạm như xưa mà trắng bệch có pha chút xanh xao, y như bôi một lớp sáp trên mặt, hàm răng ông cũng không còn vàng ám khói như nghệ mà trái lại trắng nhợt như nước sơn khiến nụ cười trông thật ma quái.
Nhất định là ông Thọ, không thể lầm được. Vân tái mặt đánh rớt cái túi thức ăn xuống đất, lạng quạng bước lùi lại mấy bước rồi kinh hồn quay đầu chạy, bà cụ người Canada đứng sau Vân đưa hai tay đỡ lấy vai Vân và hỏi bằng tiếng Anh:
- Cái gì thế, cô làm sao vậy?
Vân không hiểu gì, run rẩy chỉ ông tài xế và ấp úng mãi mới nói đại được một câu nữa tiếng Anh, nữa tiếng Việt:
- Ông ấy...ông ấy...chết..rồi...he died...ông tài xế là người chết lâu rồi..
Rồi nàng quay lưng cắm cổ chạy, bà cụ vừa leo lên, vừa ngạc nhiên nhìn theo Vân lẩm bẩm vài tiếng không ai nghe rõ.
Chạy được một khoảng khá xa, vào hẳng trước dãy phố, Vân mới dừng lại thở, nàng quay đầu nhìn lại trạm xe, thì chiếc bus đã mất hút không thấy dấu vết gì nữa. Chỉ còn trơ lại cái nhà kiếng với ngọn đèn đường vàng úa. Dãy phố chỗ Vân đứng, nhiều cửa tiệm đã đóng im lìm ngoại trừ những quán cà phê, nhà hàng ăn, và tiệm tập hóa. Vân mệt quá ngồi đại xuống bậc thềm bên cạnh tiệm bánh ngọt đang chuẩn bị đóng cửa. Hơi thở nàng vẫn còn dồn dập, nàng nhớ lại nguyên vẹn khuôn mặt trắng xanh và hàm răng trắng ngời của ông Thọ lúc thấy nàng vừa bước lên xe, làm toàn thân nàng lạnh buốt như cơn bảo bất ngờ thổi buốt thấu xương.
Nàng không thể lầm được, ông Thọ đã chết, chính nàng đã đi đám tang và chôn ông ở nghĩa trang Tân Việt, Bà Quẹo. Sao giờ này lại lái xe bus bên Canada? Vân phân vân suy nghĩ, đầu óc hoang mang, khuôn mặt đờ đẫn, quên cả cảnh vật xung quanh, đến nổi chủ tiệm bánh ngọt bên cạnh phải giục nàng đứng dậy để họ đổ rác vì nàng đang ngồi ngay bên cạnh thùng rác.
Vân đứng mép vào ngưỡng cửa nhìn ra đường, nàng nhớ tới lời Hiếu dặn là buổi tối lcứ khoảng 20 phút có một chuyến xe bus. Giờ đi làm và tan sở thì nhịp độ mau hơn. Vân uể oải bước đi, trở lại trạm cũ đứng chờ chuyến xe kế tiếp. Buổi đầu mà đến trễ, thế nào cũng bị mắng, có khi mất việc cũng chưa biết chừng. Vân chớp mắt thở dài, sực nhớ ra túi thức ăn lúc nãy đánh rớt. Vân cúi xuống nhìn lòng đường nhưng cái túi đã bị xe cán nát bấy chẳng còn hình dạng gì nữa.
Vân lại thở dài, gió khuya thổi vù vù từng cơn lạnh buốt. Nàng đứng hẳng vào trong nhà lồng kiếng, trạm xe vắng ngắt, không có ai ngoài nàng. Một lúc sau, từ khá xa xa, Vân thấy chiếc bus khác lờ mờ xuất hiện mỗi lúc một rõ ràng, nàng vén tay áo nhìn đồng hồ và hy vọng đón chuyến này vẫn còn kịp giờ đến tiệm cà phê Dolnad.
Nhưng bỗng nàng sực nghĩ ra một điều làm nàng rùng mình lạnh toát vì biết đâu trên chiếc xe bus kia, người tài xế cũng vẩn chính là ông Thọ, rõ ràng là hồn ông đã theo nàng từ Vn qua đây. Nàng mở to mắt nhìn chiếc xe đang lù lù tiến đến, rồi khi xe chỉ còn cách khoảng chưa đầy 100 thước, thì do một động lực mạnh mẽ thôi thúc trong lòng. Vân bổng hốt hoảng bỏ chạy, nàng chạy ra chỗ cũ, dãy phố chỉ còn vài căn tiệm mở cửa. Nàng đứng sát vách tường và đăm đăm nhìn ra. Khoảng cách xa quá mà trời lại tối, nàng không thấy được mặt người tài xế trên xe bus, nên không biết được người tài xế đó có phải là ông Thọ hay không? Chỉ biết chiếc xe đó hầu như trống rỗng không có hành khách.
Chiếc xe đi rồi, nàng đứng thở bần thần vì không biết tính sao? Đón xe bus thì nàng sợ gặp hồn ma ông Thọ, mà gọi taxi, thì Vân không biết có đủ tiền không? Vì nàng chưa biết từ đây ra trung tâm thành phố sẽ tốn bao nhiêu? Nhất là dù muốn kêu taxi, Vân cũng không biết kêu ở đâu số điện thoại nhà?
Cuối cùng nàng đành đi bộ về nhà, và dự định sẽ báo cho Hiếu biết hôm nay nàng không đi làm để nhờ Hiếu phone cho tiệm Dolnad. Biết Hiếu sẽ trách, nhất là bà vợ, nhưng Vân không còn cách nào khác. Trừ trường hợp Hiếu lái xe đích thân chở nàng đi làm.
Vân lầm lũi bước đi trên con đường chưa kịp tráng nhựa chạy ngoằn ngèo giữa bải đất trống cỏ mọc bừa bãi bắt đầu chết úa vì thời tiết. Nàng sang đây vào cuối tháng 8, trời Toronto còn nắng ấm chan hoà, mới gần ba tháng trôi qua, cái lạnh heo mây đã đến thật nhanh, càng gợi nổi nhớ Sài Gòn. Nhưng nhớ ai thì nhớ chứ chưa bao giờ nàng mảy may nhớ đến ông Thọ, dù chỉ thoáng trong giây phút. Mãi đến lúc nãy sau khi hồn ông hiện về nàng mới nhớ láng máng hình như trong xấp hình nàng mang theo có bức ảnh chụp đám tang ông, trong đó nàng đứng bên cạnh thân nhân của ông dưới làn mưa nhỏ sau khi hạ huyệt, nghĩa là ông Thọ đã chết thật, đã nằm sâu trong lòng đất, chính nàng đưa ra nghĩa địa, tại sao giờ này lại sang đây?
Trong thế gian, người có giống người, nhưng không thể giống như vậy được, huống chi người Việt, đâu có ai chen vào được ngành lái xe bus công cộng? Vân cắm đầu bước đi giữa tiếng gió vi vút lâu lâu rít lên từng cơn quanh khu đất trống tối tăm, dãy nhà Tân lập hiện ra mờ mờ, thấp thoáng ánh đèn, trong đó có nhà Hiếu.
Bổng Vân nhận ra mình không phải là kẻ độc hành trên con đường lởm chởm đá vụn này, sau lưng nàng rõ ràng có tiếng bước chân người đi nhanh, mỗi lúc một gần nàng hơn ,tiếng giày đàn ông mạnh bạo trên lớp đá vụn nghe xào xạc. Nàng đi chậm lại, tránh sang một bên để nhường bước cho người phía sau tiến lên. Nhưng tiếng giày cứ ở sau lưng Vân không vượt lên phía trước. Tò mò nàng quay lại thì không thấy ai cả, hoàn toàn trên quảng đường vắng quanh nàng không có một bóng người. Nàng giật thót người, và rảo bước nhanh hơn. Thì tiếng bước chân vô hình lại cũng tiến mau hơn theo sát sau lưng nàng. Nàng lấy hết can đảm, quay phắt lại, thì vẩn không thấy ai, tứ phía xung quanh không có người, chỉ có gió thổi vù vù.
Vân kinh hãi bỏ chạy, nhưng đôi chân dường như ghì lại, níu lấy không cho nàng bỏ trốn. Vân vùng vẫy lao tới, vấp chân té sấp xuống đường, nàng luống cuống đứng dậy, vừa thở vừa chạy ngay tới trước cửa. Vân hoàn hồn ngước lên nhìn ba bậc cầu thang, tay cầm chià khóa. Khu nhà tiền chế mới cất nằm san sát bên nhau, nhà này cách nhà kia chỉ hơn một thước. Nhưng con đường trước mặt thì rộng thênh thang và thường xuyên vắng lặng. Đang tra chià khóa vào cửa bổng nhiên giật thót người, vì nhìn qua màn cửa sổ nhà bếp thấy thấp thoáng bóng người đàn ông mờ mờ đi lại trong nhà làm nàng liên tưởng ngay đến bóng ma ông Thọ, nhưng thật ra đó chỉ là Hiếu đang lấy nước trong tủ lạnh bưng lên lầu. Nghe tiếng chià khóa lách cách ở ổ, Hiếu giật mình, đứng khựng lại ở chân thang và hỏi bằng tiếng Việt lẫn tiếng Anh:
- Ai đó? Ai mở cửa đó?
Rồi anh từ từ tiến ra vừa lúc cánh cửa mở và Vân xuất hiện, Hiếu ngơ ngác hỏi: - Sao lại về? Quên cái gì hả?
Vân vừa thở hổn hển, vừa đáp vắng tắt:
- Tai... tại em..gặp ma Trên nhà vợ Hiếu và con bé Mỹ Linh nghe tiếng nói ồn ào cũng bước ra và đi xuống. Hiếu biết em gái mình không phải hạng người lười biếng, trốn việc huống chi anh cũng vừa nhận ra sắc mặt tái mét của Vân, nhưng cái lý do Vân đưa ra là một điều không chấp nhận được vì ngoài sự tưởng tượng của anh. Anh nhăn mặt hỏi lại: - Mày nói cái gì? Mày gặp ma à? Gặp ở đâu? Sao lại có chuyện lạ đời như vậy, Canada này làm gì có ma?
Vừa nói, Hiếu vừa tiến lại đặt cóc nước lạnh xuống bàn, Vân bưng ngay ly nước của anh uống cạn vì cổ họng đang khát khô, nàng cởi áo khoác, máng lên thành ghế rồi kéo ghế ngồi, Hiếu cũng ngồi đối diện em, trố mắt nhìn ngờ vực, mặc dầu anh thấy rõ đôi mắt Vân chưa tan nỗi kinh hoàng. Vợ Hiếu và con gái kéo tới, tất cả đều ngồi ở bàn ăn, thấy vợ bên cạnh, Hiếu nhắc lại câu hỏi:
- Tại sao đang đi làm lại bỏ về là thế nào?
Vân đặt cái ly xuống bàn và nói:
- Em đã nói với anh rồi, nhưng mà em hỏi anh là anh có nhớ cái ông Thọ ở gần nhà mình không? Cùng con hẻm nhà mình đó, cách nhà mình ba căn đó, anh có nhớ không đã? Cái ông Thọ ngày xưa ổng đi lính cái lúc mà em còn bé xíu à !
Hiếu ngắt lời:
- Tao đi lâu quá rồi đâu có nhớ ! Nhưng mà mày làm sao? Mày nhắc đến ông ấy để làm gì mới được chứ?
Vân khổ sở kể tiếp:
- Trời ơi ông ấy chết rồi, lúc sau này ông ấy lái xe bus.....rồi chết luôn trên xe bus, cái lúc mà ông chết thì...thì... em có mặt trên chuyến xe bus đó, rồi chính em đưa ông ấy ra nghĩa địa...
Hiếu càng sốt ruột ngắt ngang:
-..Nhưng mà rồi sao? ông ấy chết thì có dính dáng gì đến mày?
Vân mở to mắt nhìn anh nhấn mạnh:
-..Thì...ông chết cả năm nay rồi...bổng dưng lúc nãy..ơ..ơ..lúc em lên xe bus thì chính ổng ngồi lái...
Hiếu nhìn em toan phì cười, vợ Hiếu mỉa mai chen vào:
- Cô mới qua Canada mà coi tivi nhiều quá...Nói chuyện như thế mà cũng mở mồm ra mà nói, không muốn đi làm thì ở nhà, bịa đặt chuyện ma làm cái gì không biết. Vân bực bội đứng dậy đi lại phía tủ lạnh lấy thêm ly nước và gắt nhẹ:
- Em nói thật chứ bịa đặt cái gì, em thấy chính ông Thọ ngồi lái xe, vừa thấy em..ổng nhe răng ra cười rồi gật đầu chào em. Trời, em sợ quá, em bỏ chạy về liền.
Cả nhà cùng im lặng, nhưng rõ ràng không ai tin lời Vân. Một lúc sau con bé Mỹ Linh lên tiếng:
- Chắc cô phải đi bác sĩ tâm thần quá à !
Vân thở dài thường thượt rồi bực bội bảo Hiếu:
- Tức quá...Em không mang tấm hình nào của ông ấy..Anh nhìn mặt là anh nhớ ra ngay. Anh không tin thì...tối mai anh ra trạm xe bus với em.
Hiếu trầm ngâm nói:
- Tao phải đi ngủ sớm, đâu có thức được mà đưa mày đi làm, mà đi taxi thì lương mày không có đủ trả.
Rồi Hiếu quay sang đột ngột hỏi vợ:
- Em có nhớ ông Thọ không?
Vợ Hiếu gật đầu:
- Nhớ ! Nhưng mà không có rõ lắm, hồi em mới lấy anh thỉnh thoảng gặp ông ấy đi ngang nhà mình ấy. Nghe nói chết bất đắc kỳ tử mà, hình như là đứt mạch máu. Nhưng mà...Giá như ông ấy làm ma hiện về thì hiện bên Vn chứ ma nào mà du lịch tận sang đây?
Nói câu ấy, vợ Hiếu mỉm cười như chế giễu Vân. Hiếu vội lên tiếng bảo Vân:
- Tao có cách này, tối mai mày đừng có đón chuyến xe 9 giờ rưỡi như tối nay nữa, mày chịu khó đi sớm hơn nữa giờ, đón chuyến trước khoảng 9 giờ. Như vậy mày sẽ khỏi phải gặp ông tài xế bửa nay. Trong thiên hạ thì thiếu gì người giống nhau, nhưng mà muốn chắc ăn thì đi chuyến khác, khỏi gặp ông tài xế bửa nay mà mày bảo là ma ! Vân hài lòng đáp:
- Vâng, em cũng định như vậy, đi sớm nữa giờ cũng được chứ ngồi nhà làm gì, đến tiệm trước thì càng vui.
Vợ Hiếu chỉ muốn em chồng đi làm nên đề nghị thêm:
- Còn muốn chắc ăn nữa thì chịu khó cuốc bộ thêm lót đường nữa, thay vì đón xe đường số 4 thì qua hẳn đường số 5 đó, hai đường song song với nhau mà, xe nào cũng dẫn đến metro. Rồi đằng nào cũng đổi xe bus mới ra được downtown. Vân gật gù đồng ý:
- Vâng, vâng..có lẽ như thế thì chắc ăn hơn.
Hiếu biết em không muốn ở nhà, nên gật gù nhắc lại:
- Ờ, cứ như vậy đi, chịu khó đi sớm một tí Ngừng một chút, anh hỏi thêm: - Thế còn tối nay thì sao? Bây giờ thì sao? Mày có đi làm hay không?
Vân im lặng không đáp, hình ảnh ông Thọ vẫn còn làm nàng kinh khiếp. Hiếu đứng dậy lại góc nhà nhấc phone gọi cho tiệm Dolnad mà chủ nhân là một người Hoa hồi trước làm chung sở với Hiếu, nói chuyện vài câu rồi anh gác máy rồi trở lại bảo Vân:
- Tối nay nghỉ cũng được người ta chưa cần mày lắm, thật ra thì họ muốn mày đến trước một hôm để học việc nhưng mà thôi đằng nào cũng trể rồi, tối mai bắt đầu làm. Thôi, ta đi ngủ thôi. Nhớ khóa cửa lại.
Vợ chồng Hiếu đứng dậy lên lầu, con bé Mỹ Linh cũng theo lên. Bình thường nó nhốt mình trong phòng riêng học bài hoặc nghe nhạc ít khi xuống nhà dưới. Mẹ nó có ác cảm sẳn với Vân, nhưng nó thì lại dửng dưng, không thành kiến. Thỉnh thoảng lúc rảnh rổi nó còn tận tình dạy Vân học tiếng Anh.
Mọi người lên lầu rồi, Vân cũng uể oải vào buồng ngủ lấy quần áo đi tắm. Nàng cảm thấy khó chịu vì không có cách nào chứng minh cho cả nhà biết là nàng đã gặp ma thật. Toan bước ra, bổng Vân nghe tiếng con chó nhà hàng xóm gầm gừ ngay sau sân nhà mình, sát cửa sổ buồng của Vân.
Tay ôm bộ quần áo, Vân nhíu mày lắng nghe rồi thì một phút sau hình như nó chồm và những móng sắt của chân trước gào liên tục vào tường nhà Vân làm nàng càng thêm khó chịu. Gần ba tháng nay, chưa bao giờ Vân thấy nó sang sân nhà mình, dù là sân sau. Nó hiền như cục đất, suốt ngày nằm lừ đừ ngoài hiên nhà bên cạnh bên tay trái nhà Hiếu, bổng dưng tối nay con chó giỡ chứng, Vân đập bàn tay vào tường mấy cái để xua đuổi nó đi chỗ khác. Nhưng chẳng được chỉ trong khoảnh khắc, con chó bắt đầu tru lên trong đêm vắng lặng trong khu dân cư thưa thớt, nghe ai oán đến rợn người. Vì tiếng cào vào vách, tiếng tru thảm thiết cứ đều luôn luôn, rồi chuyển sang tiếng sủa vang, đôi khi như tắt nghẹn. Vân bực bội lắm, nếu nó cứ sủa như thế này thì làm sao cả nhà ngủ được. Nàng định chạy lên nói Hiếu gọi điện thoại sang ông hàng xóm bảo họ nhốt chó lại. Cái ông hàng xóm này kỳ cục quá, tại sao không để chó trong nhà mà lại thả rong ngoài vườn khi đã bước vào muà lạnh.
Tay ôm bộ quần áo ngủ, Vân tò mò vén bức màn cửa sổ trông ra sân sau xem tại sao chó sủa, tức thì nàng kinh hải thét lên, buông rơi bộ đồ xuống đất và chạy lao ra ngoài bởi vì khi tấm màn vừa kéo ra thì nàng thấy ông Thọ đã đứng sẳn bên ngoài sát cánh cửa sổ, nhe hàm răng trắng bệch cười với nàng.
Trong lúc Vân bước tới, chỉ có ánh sáng từ trong buồng hắt ra, nàng vẫn thấy rõ khuông mặt xanh xao, cái mặt của ông cười rạng rỡ. Con chó nhà hàng xóm thì cứ lao tới phía ông mà sủa rồi lại lùi xa xa gầm gừ rồi lại chồm tới ynhư xua đuổi tên trộm. Hiếu từ trên lầu chạy xuống gắt lên:
- Cái gì thế? cái gì ma la ầm lên thế?
Vân cũng vừa chạy ra, định lao luôn lên lầu, gặp Hiếu, nàng hổn hển thở và bảo: - Em...em vừa thấy ông Thọ đứng ở cửa sổ..buồng em. Hèn gì con chó nhà hàng xóm sủa mãi từ nãy đến giờ !
Vợ Hiếu cũng vừa chạy ra xem, uất ức bảo Vân:
- Chó nào sủa? Từ nãy đến giờ có nghe tiếng chó nào sủa đâu? Cô này hay nhỉ, lắm chuyện quá. Không để yên cho người ta ngủ, ngày mai cũng phải đi làm nữa chứ ! Hiếu tin rằng em gái mình đang gặp khủng hoảng tinh thần vì một chuyện gì ghê gớm lắm đã xảy ra trong quá khứ ở quê nhà, nên anh dịu dàng nói:
- Anh có nghe tiếng chó sủa đâu ! Con Mỹ Linh nó nói đúng đó, chắc là cô bị tâm thần thiệt rồi. Hay là ngày mai em lấy hẹn đi gặp bác sĩ xem sao.
Vừa nói, Hiếu vừa xâm xâm đi lại bước vào phòng của Vân, Vân lửng tửng đi theo nhưng đứng ở cửa, không dám vào. Hiếu bước vô, vén bức màn cửa sổ trông ra rất lâu, và yên chí là chẳng có gì trước mặt vì trời bên ngoài tối như bưng. Anh bảo Vân tắt hết đèn trong buồng ngủ đi để nhìn ra cho rõ. Anh thấy chẳng có gì ngoài bải đất trống chạy dài tới ven rừng. Trên bải đất trống ấy chỉ có một cái cây khá cao, đứng chơ vơ cách nhà Hiếu khoảng 50 thước. Nay mai công ty xây cất cũng sẽ đốn luôn để cất nhà bán. Hiếu xoè hai bàn tay, và nhún vai bảo Vân:
- Có gì đâu, mày nhìn lại đi. Nhìn lại lần nữa đi, có cái gì đâu !
Vân từ nãy đến giờ vẫn đứng thập thò ngoài cửa, nghe Hiếu gọi, tức quá Vân tiến lại sau lưng anh, trố mắt nhìn ra rồi nhăn mặt phân trần:
- Rõ ràng là ông ấy vừa đứng đó mà, đứng sát cái cửa sổ này này. Em không thể lầm được...Mà..mà...bộ anh không nghe thấy tiếng chó sủa hay sao? Lạ nhỉ?
Hiếu bước ra và nhăn mặt bảo:
- Chắc mày nằm mơ chứ gì?
Vân gắt lên:
- Em đã ngủ đâu mà mơ? Vừa mới vào phòng, chưa kịp tắm kia mà ! Hiếu kết luận:
- Thôi ngủ đi, mai tao với chị mày còn phải đi làm.
Rồi Hiếu lặng lẽ bước lên lầu. Hiếu ra rồi, Vân đứng lặng lẽ nhìn tấm màn cửa sổ, nàng tưởng tượng bất chợt trong đêm ông Thọ sẽ xuất hiện trở lại sau lớp kính và bức màn màu trắng đục.
Khá lâu, Vân mới lấy hết can đảm cuối xuống lượm bộ đồ rớt ở dưới đất sát tường ngay phía dưới cửa sổ, và chạy nhanh qua phòng tắm. Nàng bật hết các ngọn đèn cho căn phòng rực sáng, rồi nhìn ở trong gương, thấy rõ nét lo âu và nhợt nhạt còn đọng lại.
Nữa tiếng sau, Vân trở lại phòng đứng im nghe ngóng, nàng không dám khép cửa, không dám tắt đèn. Thậm chí bật luôn đèn ở trong nhà bếp rồi mới lên giường nằm nghiêng đưa lưng về phía cửa sổ, và trùm mền kín từ đầu đến chân. Vợ Hiếu từ nhà trên càu nhàu đi xuống và tắt hết đèn bếp cho đỡ tốn điện. Vân biết, nhưng đành nằm im. Cũng may, từ đó mọi chuyện đều bình lặng, không có gì xảy ra, con chó không gào, không sủa nữa. Tuy vậy Vân vẫn không ngủ được, Vân có cảm tưởng bên ngoài cửa sổ, hồn ma của ma vẫn lãng vảng với khuôn mặt bóng loáng vẫn đang tựa cửa đợi mình.
Khi nhắm mắt lại, khuôn mặt xanh xao của ông với hàm răng trắng nhợt lại hiện ra rõ mồn một như đang đứng ngay trước mặt Vân. Hồi nhỏ nàng nghe người lớn bảo, những người chết vào giờ linh, hồn không siêu thoát, cứ theo đuổi mãi một người nào đó trên trần gian, hay là...ông Thọ ở vào trường hợp đó? Nếu thế, thì xui cho Vân quá !
Cả tiếng đồng hồ sau, chắc là đã quá nữa đêm, Vân mới rón rén ngồi dậy đi tiểu, rồi lại trở về nằm trăn trở rất lâu. Có lẽ căn phòng sáng quá khiến nàng ngủ không được, nghĩ thế Vân vói tay tắt cả hai ngọn đèn trần, cũng như đèn ngủ ở đầu giường rồi chun vào, cuộn mình trong chăn. Nhưng đèn vừa tắt, thì từ sân sau con chó nhà hàng xóm lại bắt đầu gầm gừ nho nhỏ, rồi hai chân trước lại cào vào bờ tường liên tục nghe rin rít, làm Vân thấy rùn mình ê răng và ghê cả người. Không biết tại sao, Vân đưa hai tay bịt tai lại, nhưng con chó lại tru lên, mỗi lúc một ghê rợn hơn, lát sau lại sủa từng hồi liên tục, và luôn luôn móng sắt lại tiếp tục cào vào bờ tường. Vân lại thót người, run lên bần bật vì biết chắc rằng hồn ông Thọ vừa hiện ra trở lại đằng sau nhà. Tiếng chó sủa lớn quá trong đêm khuya, tại sao cả nhà nàng không ai nghe thấy? Vân chờ đợi mãi mà chẳng thấy Hiếu lên tiếng, chứng tỏ chỉ có mình nàng nghe được, nàng nằm co quắp, ôm cái gối vào lòng, mắt nhắm nghiền lại. Một lúc sau, tiếng chó bổng im lặng, tiếng móng chân cào vào bờ tường cũng im hẳn, Vân nhè nhẹ kéo mép chăn xuống khỏi mặt để thở, nhưng tiếng chó vừa im được một lúc, thì phía sau nhà vang lên tiếng ầm ầm cổ máy xe hơi. Đúng là tiếng xe bus chạy từ từ, đơn độc, cứ lớn dần, lớn dần cho tới khi lướt ngang ngay sang cửa sổ nhà nàng. Nhà nàng ở giữa đồng trống, không thể có con đường có bất cứ xe nào chạy ngang phía sân sau ; Nàng lại run lên bần bật và kéo mền phủ lên mặt, nhắm mắt lại, nàng hình dung thật rõ chiếc xe bus cứ từ từ tiến tới gần nhà mình, chạy lướt qua, rồi lại quay đầu trở lại. Và ông Thọ ngồi lạnh lùng sau bánh lái, nàng cố trấn tỉnh choàng dậy với tay bật đèn, và ôm cái mền chạy lao ra nhà bếp, rón rén lên lầu. Nàng muốn chui vào ngủ chung với đứa cháu cho đỡ sợ, nhưng giờ này đã quá khuya, không dám đánh thức nó. Dần dà một chút, Vân nằm dài ra sàn nhà, ngay chiếc cửa sổ phòng con Mỹ linh, tung chăn phủ kín lên người.
Sáng hôm sau chuông đồng hồ đánh thức Hiếu dậy lúc 7 giờ như thường lệ, hầu như sáng nào, anh cũng dậy trước vợ, xuống nhà đọc báo, uống cà phê cho tỉnh táo. Anh đẩy cửa bước ra, ngơ ngác thấy Vân nằm co quắp ngay lối đi, anh đứng nhìn một chút, rồi thoáng hiểu ngay là em gái đêm qua không dám ngủ một mình ở dưới nhà. Anh tội nghiệp bước đi nhè nhẹ xuống nhà để khỏi đánh thức Vân, nhưng Vân choàng dậy, ngồi tựa lưng vào vách, tóc xỏa mệt mỏi, và đôi mắt đỏ ngầu, hai mắt nhìn ra cửa sổ.
Trời hãy vẩn còn tối, 7 giờ sáng muà hè, thì nắng đã lên. Nhưng muà đông thì chưa trông rõ cảnh vật. Dưới nhà, Hiếu bật đèn sáng choang, Vân uể oải đứng dậy cầm cái mền bước xuống. Hiếu đã vào buồng tắm khép cửa lại, trên lầu cũng có buồng tắm nhưng gần như Hiếu để dành riêng cho vợ và con gái vì mỗi buổi sáng cả hai đều lục đục trong đó rất lâu.
Vân tiến lại trước cửa phòng mình, đứng tần ngần một chút rồi mới dám bước vô, quăng cái chăn lên giường, nàng nhìn tấm màn cửa sổ, định bụng chờ trời sáng rõ rồi chút nữa mới kéo ra, nàng ra nhà bếp pha cà phê chờ Hiếu. Một lúc sau thì Hiếu từ trong buồng tắm bước ra, tiến lại và hỏi Vân một câu thừa thãi:
- Tối hôm qua mày không dám ngủ một mình dưới nhà phải không?
Vân mệt mỏi nói:
- Anh Hiếu à, anh có cách nào tối nay đi với em được không?...Anh không cần phải đến tiệm cà phê làm gì đâu. Anh chỉ đứng chờ xe bus với em thôi, để em xem ông ấy có hiện về lái xe nữa hay không ! Nếu có thì anh cũng lên xe với em chứ một mình em...em không có dám đâu.
Hiếu biết tinh thần em mình đang hỗn loạn, nhưng ngàn lần anh không thể tin được là hồn ma từ Vn sang tận đây để theo đuổi Vân, anh gắt nhẹ:
- Xe bus đâu có chỉ chờ có mình mày, mỗi chuyến cả mấy chục người, không lẽ cái xác chết lại lái được xe đưa cả mấy chục người đi làm? Mày nói làm sao chứ? Vân ngắt lời nhấn mạnh:
- Nhưng mà tối nay anh đi với em ra bến xe được không?
Hiếu rất muốn chìu em, đồng thời cũng muốn giải quyết một lần cho xong, nhưng anh sợ vợ anh không bằng lòng nên anh chẳng biết trả lời ra sao. Vân đặt tách cà phê, nhìn ra cửa sổ và nói:
- Trời sáng rồi, anh..anh đi với em ra đây, ra đằng sau nhà với em.
Hiếu ngần ngại không muốn ra ngoài, nhưng vì tội nghiệp Vân cả đêm mất ngủ, nên đành đứng dậy nhưng cằn nhằn bảo:
- Đứng trong buồng của mày nhìn ra sân sau cũng được, cần gì phải ra bên ngoài cho lạnh. Vân giật mạnh tay anh quả quyết:
- Không, anh cứ đi với em, em nói thì anh không có tin đêm hôm qua ông Thọ hiện về ngay sau cửa sồ buồng em nè, con chó nhà bên nó cứ sủa ầm cả lên, rồi nó cào mãi vào trong tường. Đi ! Anh đi với em đi mà.
Vừa nói, Vân vừa lôi anh lại cửa sau, nàng đẩy cánh cửa sổ bước ra, quên cả cái rét buổi sáng. Hiếu theo sau, rùn mình vì lạnh. Trời chưa sáng hẳn, nhưng nhờ khoảng trống mênh mông phía sau, nên cảnh vật bắt đầu trong rõ. Hiếu bật thêm ngọn đèn máng trước máng hiên sân sau để quan sát cho rõ. Hiếu đứng trên mãnh sân sau, chưa có làm hàng rào, chưa tráng xi măng mà lớp cỏ thì đã chết úa vì lạnh. Bỗng Hiếu trố mắt giựt mình há mồm nhìn trên bức tường nhà mình, ngay cửa sổ phòng Vân quả thật chằng chịt bao nhiêu vết cào như có ai cầm cây đinh cố ý vạch vạch. Nhà mới xây, tường còn nguyên, nên dấu cào càng rõ. Vân lay vai Hiếu và kinh hãi nói:
- Anh...anh thấy chưa? Em bảo anh mà, con chó nó cào cả tiếng đồng hồ ấy. Rồi nàng hốt hoảng chỉ tay và nói lớn hơn:
- Đây..đây này..Anh coi này...dấu chân người đứng ngay sau cửa sổ nhìn vào buồng ngủ của em, rõ ràng là dấu giày còn in lại vì chỗ đất mềm. Sân này từ trước tới giờ đâu có ai lai vãng tới. Tối hôm qua mà anh..anh ở dưới phòng em thì anh mới thấy sợ, em phải chạy lên lầu là vì thế ấy.
Hiếu cũng vừa nhận ra dấu giày đàn ông quay mũi vào hướng buồng Vân, làm anh bắt đầu đổi thái độ. Một cảm rờn rợn bất chợt lan vào toàn cơ thể anh, anh im lặng quay đầu nhìn sang nhà hàng xóm có con chó quanh năm hiền lành, rồi anh kéo tay Vân ra hiệu bảo vào nhà khép cửa lại.
Anh đi ra sân trước dáo dác nhìn, con chó hàng xóm đã nằm lặng yên trước hiên không có một dấu hiệu nào chứng tỏ đêm qua nó đã gặp ma. Anh bảo Vân: - hay là kẻ trộm nó rình nhà mình?
Vân lắc đầu:
- Đằng sau nhà mình là bải đất trống, trộm nào dám đứng khơi khơi giữa bãi đất trống mà rình?
Hiếu cũng đã nghĩ đến điều ấy, nhưng anh vẫn cố nêu ra một giả thiết để tự an ủi mà thôi. Vào nhà, anh ngồi ở bàn ăn, hai mắt đăm chiêu suy nghĩ. Vân rót cà phê cho anh, rồi bưng lại đặt trước mặt, Hiếu hỏi:
- Cái ông Thọ mà mày bảo là hiện hồn về đó, lúc còn sống ông ấy có..ông ấy có..có dính dáng gì đến mày không? Tại sao lại hiện về để chọc ghẹo mày?
Vân kéo ghế ngồi và lại tỉ mỉ kể hết diễn tiến mọi chi tiết cho Hiếu nghe, chỉ khác một điều là lần này nàng kể phấn khởi hơn bởi vì Hiếu đã chăm chú lắng nghe không xem thường câu chuyện của nàng như tối hôm qua. Nàng kết luận:
- Tối nay anh chịu khó ra đón xe bus với em được không anh?
Hiếu gật đầu đáp:
- Ừ, để tối nay tao đi với mày, nhưng tao dặn mày để xíu nữa chị mày dậy, đừng có nói gì cả. Bả nhát lắm, biết là có ma thật, chị mày có thể đứng tim chết đó. Vân gật đầu mặc dầu trong lòng rất ấm ức, vì rõ ràng bà chị dâu cho là Vân bịa đặt, chị cứ yên chí cho là Vân lấy cớ để nghỉ ở nhà để khỏi phải đi làm. trong lúc tức tối, Vân chỉ mong cho hồn ma hiện về cho bà chị dâu gặp một lần để bả tởn. vân đứng dậy và nói: - Thôi, anh chuẩn bị đi làm đi, em phải đi ngủ một giấc đây, mất ngủ một đêm mệt quá. Định vào ngủ chung với cháu Mỹ Linh nhưng mà lại sợ làm mất giấc ngủ của nó, em đành phải nằm ở ngoài hành lang ấy.
Hiếu trầm ngâm không nói gì nữa, Vân nhìn anh tha thiết hỏi:
- Ừm..em..em gọi phone về VN được không anh?
Hiếu bưng tách cà phê chưa kịp uống ngạc nhiên đáp:
- Được chứ, nhưng mà mày gọi cho ai?
- Gọi cho gia đình ông Thọ ấy mà, ông ấy ở với một ông anh ruột, em bảo là người ta làm lễ cầu siêu, tại vì ông Thọ không vợ, không con cho nên không có ai cúng kiến cả. Hiếu uống một ngụm cà phê rồi gật đầu bảo:
- Ừ tùy mày vậy, lát nữa tao đi làm thì mày gọi.
Vân hài lòng đứng dậy, anh em thương nhau nhưng vớ phải bà chị dâu khó chịu, thành ra bất cứ việc gì muốn làm, Vân vẫn cứ phải đắn đo. Nàng bước vào phòng tắm, bao nhiêu nỗi kinh sợ đêm qua, giờ này khi trời sáng đã giảm hẳn. nàng đánh răng rửa mặt, rồi cởi quần áo vào bồn tắm xối nước nóng cho đỡ mệt mõi, rồi nàng vào buồng khép cửa lại lên giường ngủ. Ngoài nhà vợ chồng Hiếu và con gái lục đục một lúc rồi khóa cửa đi ra trả lại sự vắng lặng một mình cho Vân ở nhà. Nàng cần phải ngủ một giấc dài, đêm nay mới có thể thức trắng làm việc ở tiệm cà phê.
Vân ngủ được mấy tiếng đồng hồ thì choàng tỉnh dậy giữa căn nhà vắng vẻ, ngẩm nghỉ mấy giây mới nhớ lại trọn vẹn câu chuyện đêm qua vào lúc thấy ông Thọ mặt sáp ngồi trên xe bus cho đến những âm thanh hổn độn ở sau nhà: tiếng chó sủa, tiếng cào vào tường, tiếng xe bus chạy. Tất cả uà trở về rất nhanh trong trí nhớ của nàng. Tuy nhiên, nhìn qua màn cửa sổ, nàng thấy trời đã rực nắng nên cái cảm giác run sợ không còn đè nặng như đêm qua, nhìn đồng hồ trên bàn thấy cũng quá trưa, Vân choàng dậy, định ra rửa mặt rồi nấu cơm, chui ra khỏi tấm chăn dày, Vân thấy rùn mình vì lạnh, nàng mặc vội cái áo khoác rồi lại kéo rộng tấm màn cửa sổ cho căn phòng thêm ánh sáng.
Màn vừa kéo ra, nàng hãi hùng kêu lên, và bước lùi lại mấy bước. Trên bãi đất mênh mông trước mặt, cách nhà nàng khoảng 50 thước, trơ trọi một cây thông khá cao giờ này lá đã rụng gần hết. Một người đàn ông đứng dựa gốc cây miệng ngậm điếu thuốc khói bay nhè nhẹ, đăm đăm nhìn vào cửa sổ buồng ngủ của Vân. Mặc dù khoảng cách khá xa, Vân cũng vẫn nhận ra ngay đó là ông Thọ với cái dáng quen thuộc không thể lầm lẫn được. Vừa thấy Vân, nghĩa là khi Vân vừa kéo màn cửa, ông liền quay lừng lửng bỏ đi về phía bià rừng và mất hút trong đó.
Vân để bàn tay lên ngực để trấn tỉnh, nàng không dám kéo màn lại nữa. Nàng chạy ra nhà ngoài kiểm soát lại xem cửa chính đã đóng kín và gài then trong chưa, đồng thời nhà có bao nhiêu cửa sổ ,Vân kéo màn mở tung ra hết, nàng nghĩ hồn ma luôn luôn sợ ánh sáng, cho nên chiều nay khi Hiếu đi làm về, nàng sẽ đòi Hiếu thay cái bóng đèn thật sáng phía sân sau ngay trên cửa sổ của nàng, rồi từ đây khi ngủ, nàng sẽ không kéo màn lại nữa. Nàng đứng ở bàn ăn đờ đẩn suy nghĩ, tim vẩn còn đập thình thịch, căn nhà vắng lặng lạ thường, không một tiếng động nhỏ làm nàng cảm thấy rờn rợn như sống một mình giữa lâu đài hoang.
Nàng vào phòng khách, bật ti vi lên cho đỡ trống trãi rồi qua phòng tắm rửa mặt. Nhìn đồng hồ thấy mới khoảng 1 giờ trưa nàng lưỡng lự toan gọi điện thoại về Vn, nhưng lại đổi ý hoãn đến chiều, chờ Hiếu về để Hiếu cùng nghe rõ câu chuyện. Một mặt Vân sẽ bảo người nhà cầu siêu cho ông Thọ, một mặt nàng sẽ yêu cầu bảo họ gởi qua cho nàng một bức hình của ông để mang lên chùa. Phải chấm dứt tình trạng này, chứ nếu kéo dài, thì nàng không thể làm ăn gì được. Đôi mắt vẫn còn cay, Vân đứng trước bồn rửa mặt, cuối xuống vặn nước nàng nhắm mắt lại vộc thật nhiều nước đắp lên mặt cho tỉnh. Đang lau mặt thì nàng ngạc nhiên khựng lại vì chợt ngửi thấy mùi thuốc lá thoang thoảng trong phòng, nàng nhíu mày đứng yên, hít hít mấy cái và càng thấy rõ mùi thuốc lá bao phủ nặng nề hơn. Hiếu đi làm mới về bất ngờ chăng? Chắc là không ! Bởi dù Hiếu có về thì Hiếu cũng đâu có hút thuốc, anh bỏ thuốc đã lâu. Mấy cái gạt tàn chỉ còn giữ lại trong tủ làm kỷ niệm. Nhà này không có ai hút thuốc, sao lại có mùi khói bay trong nhà? Vân máng cái khăn lên và cất tiếng hỏi lớn:
- Anh về đấy hả anh Hiếu?
Cùng với câu hỏi ấy, Vân bước sang phòng khách, nàng kinh hãi đến rợn người vì ở bàn salon, trên chiếc gạt tàn bằng thủy tinh, có điếu thuốc đang cháy giở, khói bốc thành sợi bay lên cao. Vân đứng chết cứng tại chỗ, trố mắt nhìn, bên cạnh cái gạt tàn còn có gói thuốc Mai mà đã hơn một năm nay Vân mới nhìn lại. Tim đập thình thịch, Vân đưa mắt nhìn quanh, ngó xuống bếp và ngước lên lầu, nàng biết hồn ma ông Thọ đang có mặt trong căn nhà với một điếu thuốc nội hóa mà xưa kia ông vẫn hút khi lái xe bus.
Dường như có tiếng bước chân trên lầu, nàng im lặng láng nghe thì không thấy gì nữa. Căn nhà chìm trong im lặng mênh mông, không một tiếng động nào. Đứng một lúc, lấy lại phần nào bình tĩnh, Vân tiến lại góc nhà, chỗ máng điện thoại để gọi vào sở báo tin cho Hiếu biết. Nàng dự định điện thoại cho Hiếu xong thì nàng sẽ ra phố đông người hoặc vào một shopping center nào đó đi thơ thẩn ,chứ không dám ở nhà một mình, 5 giờ chiều cả nhà về thì Vân mới về.
Vân đứng bên cạnh cái phone màu đen máng trên vách mở cuốn sổ tìm số của Hiếu, nhưng còn đang lật từng trang thì điện thoại bổng reo vang làm nàng giật nẩy người, đánh rơi cuốn sổ điện thoại xuống chân. Nàng trấn tỉnh ngay, đặt bàn tay lên ngực và thở phào vì đoán là Hiếu gọi về. Ban ngày cả nhà đi làm hết, đâu có ai gọi vào giờ này? Chắc chắn chỉ có Hiếu hoặc con bé Mỹ Linh mà thôi. Nàng nhấc ống nghe, áp vào tay vừa nói " Hello " thì từ phía đầu giây bên kia vang lên một giọng nói rất mơ hồ lẫn trong tiếng gió thổi như vọng từ cõi xa xăm nào về....
- Chào cô Vân, tôi là Thọ đây, Thọ xe bus đây !
Vân thét lên, buông rơi chiếc điện thoại xuống bàn và bỏ chạy ra sân nhà, nàng xuống hẳn lề đường, mặt tái mét, đưa mắt nhìn ra trước sân và hai bên nhà hàng xóm. Con chó nhà bên cạnh vẫn nằm lừ đừ trước cửa dưới ánh nắng khô lạnh. Sực nhớ ra mình đang mặc đồ ngủ, hơi giá thấm nhanh qua lớp vải nội hóa. Vân lại trở vào, rón rén mở cửa, mắt mở trừng trừng, nhìn tứ phía căn nhà nàng cư ngụ đã 3 tháng hôm nay biến thành một cõi âm hồn lạnh lẽo mà nàng cảm nhận được trong không gian. Nàng muốn gọi phone cho Hiếu, nhưng cứ đứng nhìn cái điện thoại mà kinh hãi, chỉ sợ đến gần thì hồn ma ông Thọ lại từ thế giới bên kia kêu về.
Nàng mon men đi vào phòng, dáo giác ngó quanh, rồi thay bộ quần jean áo thun, rồi nàng qua buồn tắm lấy cái Jacket dày vẫn máng trong đó. Nhưng lạ quá, cái áo khoác ấy chỉ máng lên một cái đinh nhỏ sau cánh cửa mà nàng giật mãi không ra, như có bàn tay ai giữ lại. Vân dùng hết sức, kéo thật mạnh cái đinh sút luôn, làm nàng ngã té. Vân lồm cồm đứng dậy cầm cái jacket chạy luôn ra sân.
Buổi chiều vợ chồng Hiếu về tới nhà đã thấy Vân đứng chờ ngoài sân. Trời muà đông âm u gần như đã 7 - 8 giờ tối. Nhìn nét mặt xanh xám và cặp mắt lạc thần của em, Hiếu ưu tư hỏi:
- Sao giờ này không ngủ, ra đứng đây làm gì cho lạnh?
Chờ vợ Hiếu vào nhà trước, Vân mới níu cánh tay anh và vắn tắt kể:
- Anh Hiếu ơi, hồn ma ông Thọ đan gở trong nhà mình từ sáng tới giờ đó. Em đang ở trong buồng tắm thì ngửi thấy mùi thuốc lá. Em chạy ra không thây ai mà lại thấy điếu thuốc cháy dỡ trên tàn, bên cạnh điếu thuốc Mai. Ghê nhất là lúc em tính gọi phone vào sở cho anh thì em nghe tiếng ở trong phone, nhất ra thì chính là tiếng của ông ấy. Giọng ông ấy nghe...nghe ghê lắm, nghe kỳ lắm..em sợ quá..em sợ lắm anh ơi..em..em ở nhà một mình chắc em chết mất...
Giọng Vân cực kỳ thảm nảo khiến Hiếu đứng yên tại chỗ, đăm đăm nhìn xuống chân ngẫm nghĩ không biết giải quyết bằng cách nào để giúp em. Những điều Vân vừa kể như ông Thọ hiện về hút thuốc, và nhất là điện thoại cho Vân thì Hiếu chưa tin hẳn. Tin làm sao được? Y như trong phim ảnh, hay là em gái mình bị loạn trí thật rồi? Cũng không phải, dấu chân người và những dấu vết cào trên vách tường sau nhà Hiếu rõ ràng là điều có thật mà sáng nay chính anh đã tận mắt chứng kiến.
Muốn kiểm lại cho chắc, Hiếu không vào nhà vội, anh kéo Vân vòng ra hông nhà và ra phía sau. Dấu chân người đứng sát cửa sổ và những vết cào chằng chịt trên tường vẫn còn nguyên vẹn. Vân bảo:
- Anh..anh thay cho em cái đèn thật sáng ngoài này được không? Ma bao giờ cũng sợ sáng cả.
Hiếu vừa bước vòng về phía trước vừa nói:
- Tạm thời mày sợ thì nằm chung với con Mỹ Linh. Nhưng mà mày có ngủ ở nhà đâu mà mày sợ? Mày làm ban đêm mà ! Lát nữa tao đi với mày ra đón xe bus.
Giờ này thì Vân không phải chỉ sợ ông Thọ ngồi trên xe bus, mà chỗ nào hình như cũng có ông theo bước chân nàng. Hai người vừa tới cửa trước thì vợ Hiếu cũng vừa từ phía trong nhà bước ra, mặt hầm hầm nhìn Vân mắng lớn:
- Cô ở nhà làm gì mà phòng tắm bừa bãi như thế này? Thủy tinh vỡ đầy trong ấy mà không quét dọn gì cả, rủi ai đạp vào thì sao? Rồi bao nhiêu chai lọ lăn lông lốc ở trong buồng tắm ấy, cô để yên được à? Muốn vào đây thì phải gọn ghẽ chứ.
Vân cuối đầu nén tiếng thở dài, Hiếu không biết giải thích thế nào với vợ để bênh em gái, bèn dịu dàng bảo Vân:
- Vào quét đi, quét rồi lấy máy hút bụi hút lại cho thật kỹ đi. Vân vô buồng tắm rồi, vợ Hiếu đứng ở bếp chống nạnh nhìn quanh rồi chán nản nói:
- Um...ở nhà cả ngày mà bếp núc lạnh tanh như thế này. Không nấu được hộ nồi cơm. Chán thật !
Hiếu nghe vợ cằn nhằn em gái một cách oan ức, nhưng anh không biết nói sao, anh không muốn vợ biết rằng chính anh cũng đã bắt đầu tin những điều Vân kể, anh tò mò đứng ở trước cửa buồng tắm nhìn vào, Vân đang khom người quét những mãnh thủy tinh, vội đứng dậy và thì thầm kể:
- Em thấy tình hình ghê rợn lắm rồi, em..em chịu không nổi, anh phải làm cách nào giúp em. Trưa nay, em ngủ có khoảng ba tiếng đồng hồ. ban ngày nên em cũng đỡ sợ, ngủ dậy em vén màn cửa sổ thì không ngờ em lại thấy ông ấy. Đêm qua thì ông ấy đứng sát cửa sổ, trưa nay thì ông ấy đứng xa xa dưới gốc cây, chỗ cái bãi đất trống kia kià..Anh có biết cây đó là..là cái cây gì không? Đó đó cái cây đó đó, anh qua buồng em mà coi.
Rồi thấy em, ông ấy bỏ vào rừng. trời đất ơi, em mệt quá vì thiếu ngủ, mới vào buồng tắm vộc nước đắp vào mặt, ai ngờ mở mắt ra thì ngửi thấy mùi thuốc lá, chạy ra phòng khách thì thấy điếu thuốc đang cháy dỡ. Em chưa đứng tim mà chết là may đấy. Vào phòng tắm để lấy cái áo jacket thì có người giữ lại không cho em lấy. lôi mãi thì cái đinh nó tuột ra làm em ngã lăn vào buồng tắm suýt gãy xương sống.
..mà..mà lạ quá..cái ly thủy tinh này múc nước xúc miệng thường ngày nó nằm cạnh cái bàn rửa mặt, sao hôm nay nó nằm cạnh cái bồn tắm? rớt xuống vỡ tung ra, em..em chả hiểu ra làm sao hết.
Rùng rợn nhất là lúc em nghe tiếng ông ấy trong điện thoại. Từ nay....từ nay chắc em không dám nhấc điện thoại nữa đâu.
Hiếu chỉ nghe em kể cũng thấy rùn mình, lạnh buốt xương sống, mặc dù toàn những chuyện lạ lùng đầy tính hoang đường, anh bảo Vân quét dọn. Một mình vào buồng ngủ của Vân, đứng nhìn qua cửa sổ. trời đã tối xẩm, ngoài khu đất hoang, cảnh tượng thê lương như bải tha ma không một bóng người, không một chút ánh sáng vì nhà Hiếu ở dãy cuối cùng. Hiếu kéo màn cửa sổ lại, rồi trở qua buồng tắm và hỏi Vân:
- Ông Thọ lúc còn sống theo đạo gì?
Vân vừa quét vừa đáp:
- Dạ..hình như đạo Phật hiếu bảo:
- ở Toronto có nhiều chuà VN lắm, hay là mày nhờ chuà làm lễ cầu siêu cho ông ấy. Vân hăm hở đồng ý ngay:
- Vâng, em cũng định như vậy. Thứ bảy này nhờ anh đưa em đến chuà, chuà nào cũng được. Nhưng mà trước mắt phải giải quyết ngay chứ..để thế này đâu có được. Từ đây đến thứ bảy còn lâu quá.
Hiếu nhìn em gái tội nghiệp nói:
- Giải quyết cách nào bây giờ? Chính tao cũng không biết. À, mà mày gọi điện thoại về Vn chưa? Bảo người nhà ông ấy gửi gấp gấp hình ông ấy sang đây để mày mang lên chuà. Vân mệt mỏi đáp:
- Trời ơi, em chưa gọi, bao nhiêu chuyện dồn dập xảy ra, em chẳng còn tâm trí nào để nhớ là điện thoại về Vn, thôi hay là để sáng mai vậy.
Vân vừa dứt lời thì con bé Mỹ Linh cũng vừa về tới đẩy cửa bước vào, cất tiếng chào bố mẹ rồi đi thẳng lên lầu vào buồng riêng. Nó thay quần áo xong, xuống nhà chuẩn bị ăn cơm, thấy mẹ đứng nấu bếp, nó vô tình hỏi: - Ủa, cô Vân ở nhà không nấu hay sao mẹ?
Vợ Hiếu được dịp than:
- Chả biết làm gì cả ngày ở nhà mà bừa bải như bải rác, không dọn dẹp, cũng chả nấu nướng.
Những câu nhiếc móc ấy Vân đều nghe rõ cả vì vợ Hiếu cố ý nói lớn, nhưng nàng lờ đi vì đã có lời dặn của Hiếu, nàng dọn xong buồng tắm, treo tấm màn nylon lên thì nghe tiếng Hiếu gọi ra ăn cơm. Ít có gia đình nào chị dâu em chồng hoà thuận với nhau, nhất là trong hoàn cảnh của vợ Hiếu và Vân hôm nay. Hai chị em ngồi đối diện nhau không ai nói lời nào. Con bé Mỹ Linh vốn tính hồn nhiên, tươi cười hỏi Vân:
- Tối nay cô có đi làm không? Coi chừng cô lại gặp ma trên xe bus đó nha !
Vân chưa kịp đáp thì Hiếu lên tiếng:
- Ừm...lát nữa ba sẽ đi với cô Vân ra trạm xe, chờ cô lên xe xong thì ba mới về.
Lập tức vợ Hiếu đặt bát và gắt lên:
- Ơ hay ! Tại sao phải như thế? Không lẽ đêm nào cũng đưa từ nhà ra bến xe à? Thế thì ở nhà cho rồi, đi làm làm cái gì? Đi làm mà phiền người khác thì nghĩ phức cho rồi. Hiếu gắng nhẫn nhục phân trần:
- Anh đi với cô ấy tối nay thôi, để xem ông lái xe bus là ai mà con Vân nó sợ?
Mỹ Linh chen vào:
- Ba cho con đi theo luôn đi, để xem ông ấy có phải là ma không nhá?
Vợ Hiếu quát lên:
- Thôi thôi, vẽ chuyện, không có đi dâu hết á, ăn xong lên phòng học bài đi. Hiếu bực mình chịu không nổi, lạnh lùng bảo vợ:
- Em cũng nên đi với anh, và con nữa. Đi ra xem ông tài xế xe bus là ai? Người hay là ma?
Vợ Hiếu quẳng đôi đũa xuống bàn mà gắt:
- Cái gì? Hóa ra là anh cũng tin là ông Thọ chết ở Vn, rồi bây giờ sang đây lái xe bus à? Đúng là mê ngủ ! Ma nào mà đi xa vậy? Anh em giống hệt nhau, tin vớ tin vẩn chuyện dị đoan.
Hiếu cải:
- Không gặp thì làm sao mà biết được? Lát nữa anh ra xem sao?
Con bé Mỹ Linh nhìn bố dè dặt nhắc lại:
- Um...con đi được không ba?
Hiếu gật đầu:
- Ừ, con đi với ba xem cô Vân nói thật hay là chỉ tưởng tượng?
Vợ Hiếu bực mình bỏ dỡ bửa cơm, đứng dậy bước vào buồng tắm, rồi lên lầu. Con bé Mỹ Linh đưa mắt nhìn theo mẹ một lúc rồi quay lại Hiếu, nó tò mò hỏi:
- À.... Bộ ma cũng lái được xe hả ba?
Hiếu gật đầu giải thích:
- Ma là hồn người chết con ạ. Tuy xác chết, nhưng hồn không chết. Có nhiều điều người sống làm không được, nhưng hồn ma nó làm được. Huống chi là lái xe thì quá dễ. Cơm nước xong, hai cô cháu xuống dọn dẹp để Vân chuẩn bị đi làm. Nàng hồi hộp lắm. Nhưng có hai cha con Hiếu đi theo, nàng cũng đỡ sợ. Nàng tự đặt ra trong đầu hai trường hợp sẽ xảy ra: Nếu lát nữa ông Thọ lái xe thật thì nàng có leo lên xe hay không? Mà nếu tài xế không phải là ông Thọ, hai cha con trở về không, thì cả nhà sẽ khổ với sự đay nghiến của vợ Hiếu. Lúc đó nàng sẽ ăn nói làm sao với bà chị dâu khó tính?
Trong lúc Vân rửa chén, thì Hiếu lên lầu nói chuyện với vợ, vợ Hiếu bây giờ đâm ra bực chồng hơn cả bực Vân, bởi lẽ Hiếu tỏ ra tin chuyện ma vô lý của em gái, Hiếu biết thế, nên phải tìm cách vuốt, anh giả vờ nói theo ý của vợ:
- Em à, anh thấy là cả em cũng nên đi với anh ra trạm xe bus, biết đâu con Vân nó lấy cớ là sợ ma, nó ở nhà không chịu đi làm đúng như em nói? Mình ra tận nơi chứng kiến, nó sẽ hết đường chối cãi em thấy không? Chính vì vậy anh mới quyết định ra trạm xe với nó chỉ một lần thôi, từ mai nó không bịa đặt chuyện được nữa. Em đi với anh đi, em đi với anh để xem nó ăn nói ra làm sao?
Vợ Hiếu thấy chồng có lý, chị ngẫm nghĩ một chút rồi nói:
- Đi thì đi, thời buổi này mà nói chuyện gặp ma, nghe chán thật.
Hiếu vuốt theo:
- Chả hiểu con bé nó bị khủng hoảng cái gì mà sinh ra lẩn thẩn như vậy?
Anh quay bước xuống nhà, mà lòng nặng trĩu. Nổi lo âu dùm cho em gái, anh mong mỏi là mọi chuyện êm xui. Vân từ nay đi làm đều đặn để vợ anh cảm thấy thoải mái hơn. Đúng 8 giờ rưỡi, bốn người nai nịch quần áo muà đông, bước ra khỏi nhà để lên đường đi gặp...ma. Vợ Hiếu mặc jacket dày lặng lẽ theo chồng, không nói lời nào. Vợ Hiếu khóa cửa, rồi cả nhà cắm đầu cùng rảo bước. Hiếu định lái xe, nhưng vợ Hiếu và con bé Mỹ Linh đều đòi đi bộ vì quảng đường không xa lắm. Vợ Hiếu lúc này hơi lên cân, nên thấy có dịp đi bộ để tập thể dục, đòi đi ngay. Trời rét căm căm, mà gióo lại rít từng cơn qua cánh đồng trống, như hắt hơi lạnh vào bốn người. Hiếu và vợ đi trước rầm rì nói chuyện. Hai cô cháu lặng lẽ đi sau.
Vân kiểm điểm lại bao nhiêu nổi kinh sợ xảy đến dồn dập trong ngày hôm nay. Nàng thầm nguyện trong đầu:
- Ông Thọ ơi, lúc sống ông là người thân của tôi, ông sống khôn thác thiên, xin đừng hiện về làm tôi sợ. Tôi hứa sẽ đặt bài vị ông trong chuà mà.
15 phút sau thì ra tới con lộ chính, trạm xe không có ai. Cả bốn người đứng khuất hẳn vào trong nhà lồng kiếng chờ đợi. Vân hồi hộp lắm, để đỡ sốt ruột, nàng hỏi Hiếu: - Bộ..bộ anh không nhớ mặt ông Thọ hay sao?
Hiếu lắc đầu nói:
- Không ! Cứ như mày kể thì hồi trước muốn đi lính ít khi về nhà. Sau 75 thì ông ấy về nhà, tao vượt biên rồi còn đâu. Gặp thì chắc là cũng nhớ, nhưng bây giờ thì tao không có hình dung được mặt mũi ổng ra làm sao.
Vợ Hiếu ngồi trên ghế băng, không nói gì, mặc dù chị vẩn nhớ mặt ông Thọ. Hiếu chưa nói xong dứt câu, thì Mỹ Linh đứng bên cạnh lên tiếng:
- Ơ...Xe tới kià ba !
Cả Hiếu và Vân cùng hồi hộp quay về hướng xe bus đang từ từ chạy đến. Vợ Hiếu còn hồi hộp hơn bởi chị mong cái giây phút này để cười vào mặt cô em chồng. Bốn người đứng thành một hàng, không ai nói một lời nào. Dưới ánh đèn đường chiếu qua làn hơi sương ảo ảo. Chiếc xe màu xám hiện ra như bóng dáng một con quái vật khổng lồ đang ám ảnh tâm trí của Vân. Nàng nín thở đăm đăm nhìn và thầm nhắc lại câu nói lúc nãy:
- Ông Thọ ơi ! ông sống khôn thác thiên, xin đừng hiện về làm tôi sợ.
Hình như xe trống, không có khách. Tới gần trạm, xe giảm tốc độ, và tấp vô lề và dừng hẳn lại. Vợ chồng Hiếu, Vân và Mỹ Linh, cả bốn người cùng căng thẳng, trố mắt chờ đợi. Rồi cánh cửa xe bus mở toang, người tài xế quay đầu nhìn ra bằng ánh mắt dửng dưng. Vân cứ đứng yên như pho tượng tại chỗ, khiến Hiếu phải đẩy lưng nàng, giục nàng bước lên. ông tài xế chỉ là một người đàn ông Canada bình thường, mặc đồng phục, tay cầm sẳn tờ giấy jo- en -phơ để trao cho khách theo thói quen. Hiếu mừng lắm, anh thở phào như trút được gánh nặng ngàn cân, nhưng phải làm bộ mắng Vân để làm vợ vui lòng:
- Mày thấy chưa, chỉ trông gà hóa cuốc. Thôi, đi làm đi ! Sáng mai về gặp lại. Con bé Mỹ Linh hỏi nhỏ Hiếu:
- Ông này đó hả ba? Cô Vân nói ông này là ma đó hả ba?
Vợ Hiếu cười khẩy bảo con:
- Hứ, ông này mà cô mày bảo ma, thì mỗi ngày tao gặp đến cả trăm con ma, ma đầy đường.
Hiếu nhún vai, bảo vợ:
- Nhưng mà mình có ra tận nơi thì con Vân nhà mình nó mới hết đường chối cãi. Thôi, thế là yên chí, đi về ngủ.
Vân bước lên, tìm chỗ ngồi tuốt phía sau, nàng vừa vui mừng, vừa hồi hộp. Mắt cứ dán chặt vào lưng ông tài xế, nàng tin vào lời thầm khẩn của nàng với hồn ma ông Thọ đã khuất. ông không hiện về làm nàng kinh sợ nữa. Hy vọng từ nay, Vân thoát nạn. Dầu sao, nàng cũng sẽ làm lễ cầu siêu cho ông và đặt hình ôn gtrên chùa thường xuyên. Hành khách trên xe thưa thớt chưa tới 10 người, Vân quan sát từng khuôn mặt đàn ông, nàng an tâm thở phào nhẹ nhõm.
Dưới lề đường, chờ cho xe đóng cửa và lăn bánh, vợ chồng Hiếu mới an tâm trở về, vợ Hiếu bắt đầu lên mặt trách chồng:
- Đã nói là nó làm bộ mà anh đâu có tin, anh bây giờ chỉ tin em gái anh thôi, còn em nói cái gì anh chả tin.
Hiếu biết là Vân không tưởng tượng bởi bao nhiêu việc đã xảy ra trong nhà anh từ tối hôm qua đến giờ, nhưng anh không muốn vợ biết, nên đành phải xuống nước: - Anh đã nói rồi, mình ra đây là để nhìn tận mắt cho nó hết cãi. Vợ Hiếu vẫn chưa buông tha:
- Em có tiếc cái công ra đây đâu. Nhưng tức là nó nói cái gì anh cũng nghe, chuyện vô lý đến thế, anh không mắng vào mặt nó, mà lại có vẻ siêu lòng nghe theo nó.
Hiếu không nói nữa, lặng lẽ đi bên vợ con, vì anh biết có phân trần thì vợ anh cũng không tin, bởi vốn đã có thành kiến với Vân. Con bé Mỹ Linh góp ý:
- Um... Con chắc là cô Vân bị ám ảnh vì ở nhà coi tivi nhiều quá !
Vợ Hiếu bắt ngay nhận xét ấy để nhắc lại:
- Chứ còn gì nữa ! Tao đã nói rồi mà. Chỉ có mình ba mày tin là có ma chứ chuyện vô lý như thế, đứa con nít nó cũng chả nghe nữa.
Về đến nhà vợ Hiếu bước lên mở cửa, mặt vẫn còn hầm hầm. Hiếu và con gái đứng dưới sân. Con bé nó đòi Hiếu thứ bảy này chở ra Toronto dự tiệc sinh nhật con bạn. Hiếu gật đầu bảo:
- Ừ cũng được, đằng nào ba cũng đưa cô Vân lên chùa.
Vợ Hiếu đẩy rộng cánh cửa bước vào, thò tay bật đèn, và treo xâu chìa khóa lên cái móc trên vách. Bỗng chị nhíu mày bực bội vì nghe trong phòng tắm có tiếng nước chảy, và đèn còn để sáng. Phòng tắm dưới nhà thì chỉ có mình Vân xài, như vậy trước khi đi, Vân đã quên tắt đèn và tắt nước. Chị uất ức đi nhanh vào và nghiến răng nghĩ đến sự bất cẩn của Vân để tốn tiền điện, tiền nước một cách phí phạm, nhiều lần chị đã nhắc mà bửa nay Vân vẫn quên.
Đứng trước cửa buồng tắm, chị lại càng bực hơn vì Vân chỉ quên tắt vòi nước nóng ở bồn rửa mặt, nước đã xả ra cả nữa tiếng đồng hồ nên hơi nước bốc lên mờ mịt che kín khắp phòng, chị vói tay lấy cái khăn tắm khua đi khua lại trước mắt mới thấy đường mà bước vào. Chị mò mẩm vặn chặt vòi nước nóng, rồi đưa khăn lau sạch lớp hơi nước phủ dày đặc tấm gương soi trước mặt. Chị thở phào, và ngẩng lên nhìn trong gương. Bổng chị thét lớn, buông cái khăn và ngã bật ngữa ra phía sau, té lăn vào buồng tắm là bởi vì khi nhìn vào trong gương, chị không thấy mặt mình mà chỉ thấy khuôn mặt sáp bóng loáng trắng bệch của ông Thọ.
Lưỡi dao bị nguyền rủa
Cái chết đi cùng với họ, nhưng chỉ một người duy nhất trong thủy thủ đoàn biết điều đó. Cũng chính vì nó mà hắn ta đã bước chân lên con tàu này, rình mò để chờ cơ hội.
Gã đâu thèm quan tâm đến tất cả những vàng bạc, những bức tranh quý hiếm, những đồ nữ trang, những thứ lụa tuyệt đẹp ngày nào đã trang điểm cho hằng sa số những người đàn bà Hồi giáo. Gã chỉ muốn với tay tới một vật duy nhất!
Người đàn ông đó tự xưng là Malraux, nhưng đó không phải là tên thật của gã. Tên thật này không một ai trên tàu được biết, và gã cũng sẽ không bao giờ nói cho nghe. Gã phải giữ mọi việc trong vòng bí mật tuyệt đối. Mà khi mọi việc đã qua đi, người ta sẽ lại càng không dám thốt lên lời nào.
Hiện gã đàn ông vẫn còn nằm trên võng, trong căn phòng bên dưới boong tàu. Xung quanh gã là một bầu không khí ngột ngạt, nồng nặc, đặc quánh đến cả những con ruồi béo phị cũng ngừng bay, tìm chỗ nghỉ. Chẳng ai biết chúng xuất phát từ đâu, nhưng loài côn trùng quỷ quyệt đã tìm được đường đi riêng và bây giờ đang hiện diện nơi đây như muôn vàn đốm nhỏ óng ánh.
Malraux nghĩ tới việc con tàu này tới một lúc nào đó sẽ sang với Tân Thế Giới, để toàn bộ của cải châu báu của dòng đạo Templer được đưa về nơi an toàn. Khác với tại châu Âu, dòng đạo Templer không bị những dòng đạo khác ở Mỹ truy đuổi và tàn sát. Ở lục địa già, cứ mỗi khi ló mặt ra là thành viên của nhóm Templer đều biết điều duy nhất đang chờ họ là tra tấn, nhà giam và cái chết.
Gã đâu có muốn đi cùng con tàu này tới tận Tân Thế Giới. Gã đã lên thuyền tại Genua và họ đã vui vẻ đón nhận gã, bởi đa số thủy thủ đều e ngại cảnh cô đơn trên con đường dài vượt đại dương. Những con đường phủ đầy những cơn bão khủng khiếp, cái khát, cái nóng thiêu đốt dưới mặt trời đổ lửa, bệnh tật và cái chết. Chỉ những người đàn ông đặc biệt dũng cảm hoặc những người đàn ông chẳng còn gì để mất mới tham gia những chuyến đi nguy hiểm như thế này. Bản thân Malraux không biết mình thuộc nhóm người nào. Vì thế mà gã đàn ông đã tự tưởng tượng ra một nhóm người thứ ba và xếp hắn vào đó.
Đoạn đường từ Genua tới trạm giữa Marseile kéo dài vài ngày, bởi đầu tiên họ phải đi ngược chiều gió thổi từ hướng Tây hoặc Tây nam. Trong khoảng thời gian này, nhất định gã phải đạt được mục đích của mình.
Họ đã đi dọc bờ biển này đến hai ngày rồi, nhưng không bao giờ vào gần bờ tới mức người trên bờ có thể nhìn thấy. Lang thang trong vùng nước này chẳng phải là không nguy hiểm, đặc biệt đối với một con tàu có in hình cây thập tự Templer trên cánh buồm.
Lẽ ra phải quét vôi lên trên cây thập tự đó, nhưng lòng tự hào của những người trên tàu không cho phép. Thay vào đó, họ dự định vào vịnh Marseile trong đêm và một số người trong họ sẽ lên bờ ngay trong đêm đó để né tránh bàn tay truy lùng của Giáo hoàng và các vị giám mục Thiên Chúa giáo cũng như của cảnh sát ngoài đời. Tất cả những nhóm người đó đều rất muốn chiếm kho báu của dòng đạo Templer, bởi tất cả đều tham lam và đều đang sắp phá sản.
Chuyện đó chẳng khiến gã đàn ông mảy may quan tâm tới. Gã chỉ biết đến một mục tiêu duy nhất. Gã cũng sẻ biến mất tại Marseile, sẽ trà trộn vào đám người trên bến cảng để rồi chìm xuống không để lại một vết tích, như một con chuột lẫn vào trong hang sâu tăm tối.
Mặt biển tương đối yên lặng. Gã vừa thực hiện xong ca gác của mình. Ca gác tới sẽ chỉ bắt đầu khi màn đêm buông xuống nhưng sẽ có lượng người canh chừng gấp đôi. Thế nên dù có màn bao bọc của bóng đêm, đi tìm vật thể mà gã mong muốn vào thời điểm đó sẽ nguy hiểm hơn. Gã quyết định thực hiện kế hoạch dưới ánh sáng ban ngày.
Rất nhiều thủy thủ trên tàu không biết những gì đang được chứa trong những hòm rương trông rất đỗi bình thường đó. Người ta nói với họ rằng đó là thực phẩm và họ tin ngay lập tức.
Nhưng Malraux thì không.
Tỉnh như sáo, gã nằm thức trên võng trong khi những thủy thủ khác đều ngủ say. Gã nghe tiếng họ ngáy và cảm thấy ghê tởm. Đáng tiếc, gã phải chờ. Gã biết có một khoảng thời gian kể cả những người lính đang canh cũng sẽ giảm tập trung và ngủ nhiều hơn là gác.
Con tàu khẽ chòng chành. Những chuyển động truyền vào võng. Tiếng gỗ cọt kẹt, con tàu đang rên lên, cứ như thế nó đang khổ sở khủng khiếp vì chuyến đi này. Nếu cơn bão nổi lên thì không biết nó còn rên siết tới mức nào nữa?
Malraux nhìn trân trân lên trần phòng, làm như trên đó có treo một tấm gương cho hắn soi. Quả thật, hắn đang nghĩ tới ngoại hình của mình. Những ai gặp hắn thường tỏ vẻ coi thường khi thấy hắn quá nhỏ bé. Họ đâu có để ý đến cấu tạo cơ thể hắn. Gã có rất nhiều cơ bắp, rất khỏe mạnh và trong một vài tháng trời sống tại xứ Osamanen, gã đã học được nghệ thuật đấu vật. Một khi đã tóm được ai vào trong vòng tay, hắn có thể giữ nguyên người này ở tư thế đó thật lâu cho tới khi anh ta chết vì ngộp thở. Hắn đã thử nghiệm điều đó rất nhiều lần, rồi bình tĩnh bỏ đi, để lại những thân hình mất hết sức sống.
Đó là một thời gian tràn đầy bạo lực, chỉ có những kẻ nhanh hơn và mạnh hơn mới sống sót.
Những người khác vẫn đang ngủ.
Họ ú ớ, họ ngáy, một số người nói lảm nhảm trong mơ. Những người khác lại rên rỉ, một số vật vã và một số làm tất cả những điều đó. Cái mùi tỏa ra từ người họ thật ghê tởm. Nó bốc lên mùi mồ hôi, mùi đàn ông, mùi ghét bẩn và Malraux cũng biết trên con tàu này có quá đủ mọi loại côn trùng để truyền bệnh từ người này sang người khác.
Hắn chờ thêm một vài phút nữa, rồi gạt cái võng sang bên. Việc đứng dậy thật ra không khó, nhưng những người thủy thủ nằm quá sát nhau nên nếu không chú ý, hắm sẽ đạp phải họ khi nhảy từ trên võng xuống.
Hắn cẩn thận từng bước một. Linh cảm cho hắn biết bây giờ là lúc hắn có thể ra tay. Không chờ đợi nữa, bởi đột ngột hắn có cảm giác như con tàu này là con tàu bị nguyền rủa. Nếu hắn không lầm, thì hắn thậm chí vừa thoáng nhìn thấy một con chuột béo phì – cái thứ rác rưởi báo trước thảm họa.
Những kẻ thù đã biết người thuộc dòng đạo Templer muốn bỏ trốn và đã tụ tập những con tàu của mình lại. Cũng đã không ít người bỏ thân nơi đáy đại dương.
Malraux chạm chân được xuống đất. Đầu tiên, hắn nhướng đầu ngón chân cái, rồi hắn đặt cả bàn chân. Hắn đi một đôi giầy rất nhẹ bằng da và vải. Hắn có thể chuyển động mà không gây ra một âm thanh nào. Tất cả những món đồ lặt vặt quanh đây chẳng bõ cho hắn mang theo, đằng nào hắn cũng chỉ lôi chúng lên thuyền cho mục đích ngụy trang. Toàn đồ chẳng mấy giá trị. Thoáng nhẩm lại, gã đàn ông tin chắc hắn hành động đúng và thời điểm này là lúc ra tay thực hiện kế hoạch. Chỉ chờ thêm vài tiếng đồng hồ nữa thôi, có thể mọi việc đã trở thành quá muộn.
Căn phòng hẹp, đầy những người ngủ và rất u tối, mặc dù có hai ngọn đèn cháy ở khoảng tường trước mặt.
Gã đàn ông bò trên cả tứ chi. Cách ra cửa tốt nhất là chịu khó chui xuống bên dưới những chiếc võng. Chúng treo trên đầu hắn như những tấm lưới nặng nề. Gã đàn ông nghe âm thanh của những người đang ngủ. Nhiều cái võng đã oằn xuống dưới sức nặng của người nằm, đến độ quệt cả vào tóc gã.
Con đường dẫn vào phòng chứa đồ được hai người lính canh chừng. Họ có vũ khí, thế nhưng Malraux không sợ. Xử lý hai người này là chuyện dễ dàng. Hắn lại có lợi thế là đã quen biết họ trong mấy ngày qua.
Con tàu chòng chành chầm chậm bước theo những đợt sóng dài. Gã đàn ông có mái tóc đen và bộ ria lởm chởm lẹ làng chuyển động theo nhịp sóng. Không khí thật ngột ngạt. Cả gương mặt và toàn bộ cơ thể hắn bây giờ phủ một lớp mồ hôi rất dày. Gã cũng bốc mùi chẳng khác gì những người đàn ông đang ngủ kia.
Gã bò về phía cửa.
Tới bên ngưỡng cửa, gã đàn ông đứng lên, chạy đến bên một cửa sổ nhỏ, ném một cái nhìn về hướng Bắc – hướng đó là bờ biển nước Pháp.
Gã chưa nhìn thấy nó, nhưng gã có thể linh cảm ra nó, bởi có những đường viền mờ mờ đang hiện lên dưới ánh mặt trời gay gắt. Gã sẽ dễ dàng vượt qua được khoảng cách này, nó hoàn toàn chẳng thành vấn đề đối với người bơi giỏi như gã. Ngoài ra, hướng sóng cũng đang đổ về biển và đang có một cơn gió nhè nhẹ thổi tới từ hướng Nam. Những kẻ khéo léo như gã có thể để cho sóng mang mình lên, và thậm chí còn nghỉ ngơi trong khi bơi.
Mọi việc diễn ra trôi chảy. Khi cẩn thận mở cánh cửa ra, hắn chẳng nhìn thấy người lính gác nào. Cửa gỗ có kêu lên cọt kẹt đó, nhưng chắc đám đàn ông đã quá mệt trong một ca gác quá dài.
Hắn lẻn ra ngoài.
Ngay lập tức, hắn cảm nhận được một luồn gió thổi thẳng vào mặt. Nó thoáng và lạnh hơn, gây cảm giác dễ chịu, nhưng vẫn chưa đủ mạnh để xua khô lớp mồ hôi dày trên mặt hắn.
Từ bên trên, ánh nắng len lỏi qua những kẻ hở trên những tấm ván, rọi vào không gian trong bụng chiếc tàu buồm và vẽ lên trên mặt đất bẩn thỉu những hình ngoằn ngoèo sáng màu, nơi có vô vàn hạt bụi nhỏ đang nhảy múa.
Gã đàn ông biết gã phải đi về đâu. Những ngăn kho lớn nằm ở giữa và đuôi con tàu. Nơi gã muốn tới là một phòng nhỏ nằm ở dãy kho đầu.
Con tàu đã được tạo dựng rất tiện lợi. Ở giữa có một lối đi chia phía dưới boong tàu ra làm hai nửa. Bên phải và bên trái là những dãy nhà kho chất đầy hàng.
Trước khi ra tới được lối đi ở giữa đó, gã đàn ông phải mở thêm một cánh cửa khác. Cánh cửa này gắn vào một vách ngăn ngang và đằng sau cánh cửa có hai người lính gác đang ngồi.
Gã biết rõ như vậy. Gã đã chuẩn bị thông tin từ trước. Tình hình hôm nay chắc chắn cũng sẽ như thế.
Malraux cất bước đi. Lẹ làng khéo léo như một tên ăn trộm. Hắn không mang vũ khí, nhưng đôi bàn tay với những ngón tay ngắn khỏe không ngừng chuyển động. Không được để cho chúng trở thành đờ đẫn, dại khờ! Những người dân ở xứ Osmanen đã dạy cho hắn một số mánh khóe, có thể dùng tay trần bóp chết người.
Bầu không khí u ám trong bụng con tàu như một làn khói cô đặc. Một bầu không khí không bao giờ thật sự yên lặng. Mặc dù hắn không nghe thấy tiếng bước chân người, nhưng tiếng sóng vỗ không ngừng vào vách gỗ tạo nên một nền âm thanh luôn hiện hữu. Cả những ván gỗ thật ra cũng luôn phát âm thanh và chuyển động. Chúng rên rỉ như những tù nhân. Đứng ở đây, gã không nghe thấy tiếng reo ù ù của cánh buồm, tiếng thổi phần phật của vải, vốn được một số người coi là bí hiểm. Chỉ thỉnh thoảng gã mới nhận ra âm thanh trầm **c của những bước chân chạy trên boong. Thỉnh thoảng hắn lại nghe tiếng ra lệnh vẳng nhẹ từ bên trên xuống, hoặc một tiếng thét, một câu chửi rủa. Thế thôi.
Có cái gì vút qua mặt hắn như một bàn tay hết sức dịu dàng. Đó là đám lưới nhện đang phủ lòng thòng từ trên trần phòng xuống. Nhện ở đây không lo chết đói. Thỉnh thoảng lại có những con ruồi béo phì sa vào lưới.
Đến bên buồng gác, Malraux dừng chân. Hắn biết hắn chỉ có một mình, mặc dù vậy hắn vẫn cẩn thận nhìn quanh. Gã đàn ông không phát hiện ra ai. Gã cũng không nghe thấy âm thanh nào khả nghi. Trong một góc phòng có những cây bạch lạp đang cháy. Chúng chảy ra, trông như những khúc xương da trắng đã bị vứt đi.
Đằng sau vách ngăn ngang là hai người lính gác. Đó không phải là thủy thủ, mà là những người lính được thuê về đây. Họ không quan tâm tới chuyện các giáo phái và họ chỉ chấp nhận tiền lương bằng vàng. Trong phòng họ ngồi bây giờ không tối hẳn, bởi ánh sáng đang lọt vào qua những khe hở nhỏ trên những vách gỗ. Mặc dù vậy, căn phòng vẫn gây ấn tượng rất u ám, như đang có vô vàn những bóng đêm nhảy múa trên nền phòng.
Malraux gõ cửa.
Gã không gõ chậm hay gõ khẽ. Gã đập thật mạnh cả nắm đấm vào cánh cửa gỗ, đòi hỏi, yêu cầu, để hai người lính trong kia biết có người đang muốn vào trong.
Đầu tiên, không có phản ứng. Thế rồi hắn nghe thấy một tiếng động. Thanh chắn bằng gỗ ở phía trong được kéo sang bên. Cánh cửa mở. Nó vừa mở vừa kêu lên một tiếng kêu tởm lợm khiến Malraux nổi da gà. Quầng sáng của một ngọn đèn dầu chiếu vào hắn, người lính gác đang giơ cao cây đèn, giơ thẳng lên trên đầu khiến những bóng đèn phủ lên mặt anh ta.
Malraux không nhìn thấy mặt người lính gác bởi nó đã chìm xuống trong cái hỗn hợp giữa bóng đen và ánh đèn. Nhưng hắn nghe được giọng anh ta.
- Anh muốn gì?
- Tôi phải nói chuyện với các anh.
- Thế thì nói đi.
- Không phải ở đây. Đừng để cho ai nghe thấy tiếng chúng ta. Chúng ta… ta phải nói chuyện riêng.
- Tại sao?
Người lái tàu cử tôi xuống. Anh ấy… anh ấy có một thông điệp gửi riêng cho hai anh. Mọi việc đã được thống nhất với thuyền trưởng. Vàng, rất nhiều vàng. Kể cả những đồ nữ trang quý giá.
Người đàn ông chần chừ. Malraux nghe thấy tiếng anh thở. Cả hai khái niệm “vàng và đồ nữ trang” luôn dễ dàng khiến cho những tên lính đánh thuê dỏng tai lên. Họ không biết những cái hòm kia đang chứa những gì. Họ chỉ nhận nhiệm vụ canh giữ chúng, tất cả những chuyện khác họ không quan tâm tới.
- Vào đi!
Người lính gác thứ hai lên tiếng. Anh ta ngồi bên một chiếc ghế thấp, ở phía bên kia quầng sáng nên Malraux không nhìn ra anh ta.
- Có chuyện gì? – Anh ta hỏi.
- Anh này mang thông tin lại.
- Của ai?
- Của người lái thuyền. – Malraux nói nhanh. – Chuyện này dính dáng đến rất nhiều vàng, có lẽ nên cân nhắc.
Giờ thì người lính gác thứ hai cũng đứng dậy. Nỗi tham lam lóe sáng trên con mắt. Cả hai người đã bỏ mũ xuống, tấm khiên che ngực cũng vậy. Không khí trong lòng thuyền quá nóng, họ đã cởi chúng ta cho thoải mái.
- Nói cho tôi nghe đi. – Tên lính có vẻ háo hức.
Malraux vẫn còn chờ đợi. Họ có hai người. Gã phải tìm cách phân tán tư tưởng họ. Mà họ lại đang mang vũ khí. Những lưỡi giáo của họ ánh lên trong ánh sáng của lưỡi lửa bập bùng từ đĩa dầu.
Gã đàn ông thè lưỡi liếm môi, xin một ngụm nước.
- Chúng tôi không có. – Một tên nói.
- Có chứ, tôi biết là…
- Cho nó đi! – Người đàn ông đã mở cửa ban nãy vụt nói.
- Tùy anh.
Người đàn ông thứ hai bước vào phần trong của căn phòng tăm tối. Chỉ còn một người ở lại.
Malraux mỉm cười. Người đàn ông đó đứng bên cạnh gã, mũi giáo đang chỉa xuống đất. Kẻ lẻn vào chờ thời điểm thích hợp. Khi nghe thấy tiếng nước chảy, hắn biết là bây giờ nước từ trong một thùng rất lớn đang được chia sang thùng nhỏ.
Gã ra đòn nhanh hơn chớp.
Người lính gác hoàn toàn bất ngờ khi một khuỷu tay cứng như đá thúc mạnh vào giữa thân thể anh. Anh gục xuống, cảm giác khó chịu trào lên, khiến anh không kịp kêu ngay lập tức. Anh ngã người về phía trước.
Malraux chỉ chờ có vậy. Gã đấm hai lần vào gáy người đàn ông.
Người lính gác xỉu xuống. Malraux đã giành lấy cái giáo trong tay anh.
Gã đàn ông lại mỉm cười lạnh lùng đi về phía trước, đến gần bóng tối.
Tiếng bước chân vang lên. Người lính gác thứ hai quay trở lại. Chắc chắn anh ta đang cầm một bình đầy nước. Anh ta không mang vũ khí, và không biết là Malraux đang chờ cho tới lúc nhìn thấy hình dáng anh hiện ra trong quầng tối.
Gã lấy đà, và phóng cây giáo nặng.
Người lính gác hoàn toàn bị bất ngờ. Malraux không nhìn được rõ chi tiết. Gã chỉ nhìn thấy dáng người đó còn giật sang bên trái rồi sang bên phải một thoáng trong bóng tối, cái bình đựng nước đập xuống dưới đất. Thế rồi cả thân hình người đàn ông cũng đập xuống. Kêu lên một tiếng trầm **c, thân người đó giáng xuống nền phòng rồi không động đậy nữa.
Malraux hài lòng. Gã đã chuẩn bị rất tốt và bây giờ gã biết rất chính xác, gã có thể tìm phòng đựng đồ vật ở chỗ nào. Những cánh cửa thậm chí không được đảm bảo bằng khóa hay dây xích. Hắn chỉ cần dùng một thân gỗ nặng và đẩy chúng sang bên.
Sau khi đã làm việc đó xong, gã quay trở lại, lấy cây đèn dầu. Gã không quan tâm đến xác chết, mà cũng chẳng thèm ném một cái nhìn xuống thân người đang ngất.
Người đàn ông không động đậy.
Malraux đoán chắc, bây giờ gã sẽ không bị ai cản trở. Gã đang rất hồi hộp. Đôi môi gã run rẩy, hai đầu gối như đang mềm ra khi bước vào căn phòng chứa châu báu, đặt cây đèn sang một bên, lấy một hơi thật sâu và đưa mắt nhìn quanh.
Nó có ở đây không?
Có!
Cái hòm đó ở ngay bên cạnh hắn. Gã đàn ông thì thào:
- Giờ thì ta sẽ ra tay…
Chương 2
Cái hòm này trông không giống những cái hòm khác, thường mang hình dáng rương đựng đồ. Cái hòm này nhắc người ta nhớ tới một chiếc quan tài, và hình dạng đó có nguyên do riêng của nó.
Malraux không đến đây tay không. Hắn đã dắt sẵn vào lưng quần một khúc gậy sắt buộc vào một sợi dây. Gã rút gậy sắt ra. Trong ánh sáng của ngọn đèn dầu, gã nhìn cái đầu đã bị đập dẹp ra của khúc gậy và tỏ vẻ hài lòng.
Nó sẽ giúp gã dễ dàng cạy nắp quan tài.
Hắn quan sát nắp chiếc quan tài. Kẽ hở của nó và phần bên dưới trông rất rõ. Đây là nơi phải thúc gậy sắt vào. Gã thử một vài lần và sung sướng vô cùng khi nghe tiếng gãy nho nhỏ, cho biết gỗ ở một vài nơi đã bung ra. Hắn cầm gậy sắt bằng cả hai bàn tay,dồn sức lực và cuối cùng cạy được cái nắp hòm bật ra không quá khó khăn.
Tất cả đều trôi chảy.
Gã đổ mồ hôi vì làm việc thật tập trung và cái mùi chua chua của gã trộn với mùi máu chảy ra từ vết thương rất sâu trên ngực người lính đã chết. Máu đã tạo thành một vũng rất rộng quanh anh ta, nó trở thành nơi mời gọi những con ruồi béo phì đang hả hê kéo tới.
Gã đàn ông nghiến răng làm việc tiếp, gã buộc miệng nguyền rủa khi thấy nắp hòm dù đã nhích ra một chút, nhưng cúng hơn hắn tưởng.
Cuối cùng, việc cũng hoàn tất. Gã cầm vào nắp hòm bằng cả hai tay và có thể nâng nó lên cao.
Nắp hòm từ từ mở ra.
Thành công!
Gã không nhìn được nhiều. Gã thở hổn hển không rõ vì hồi hộp hay vì mệt, gã bước sang bên và cầm cây đèn dầu lên. Gã đưa cây đèn dầu lại gần cái hòm, di chuyển nó dọc theo phần cuối hòm.
Ánh sáng tỏa xuống dưới, và chiếu lên một hình người. Đầu tiên, nó khiến Malraux không khỏi bị sốc.
Đó chưa hoàn toàn là một bộ xương người. Có những chỗ phơi ra xương trần nhợt nhạt trắng xám, như thể vừa được kỳ cọ, đánh bóng kỹ càng. Nhưng một số chỗ khác vẫn còn thịt và những mẩu da sót lại, bám vào xương, đặc biệt ở phần ngang vai và phần đùi trông cực kỳ ghê rợn.
Đã vậy cả những phần thịt này cũng đã thối rửa ra, ngả một màu xám như tro và chắc chắn chẳng bao lâu nữa cũng sẽ rụng hết ra.
Gã không quan tâm đến điều đó. Thứ duy nhất mà Malraux để ý tới là cái dáng người chưa mục hết này đeo vật gì bên mình.
Dây thắt lưng chưa bị mục. Nó được làm bằng da, và ở phía bên phải nó, Malraux nhìn thấy một chiếc bao đựng dao găm. Phần dưới dao đang thò ra bên ống xương nhợt nhạt. Gã không quan tâm đến bao da. Điều duy nhất quan trọng là cái gì đang thò cán ra khỏi cái bao này.
Đó là một con dao găm, cán của nó được quấn rất kỹ bằng một loại băng vải.
Khi Malraux đưa tay đến gần con dao, những ngón tay của gã run rất mạnh. Cổ họng gã nghẹn thắt, hai con mắt sáng rực lên như trong cơn sốt. Đã biết bao nhiêu năm nay gã chờ đợi giây phút này. Ước mơ quá lớn, không thể không hồi hộp.
Đây là mục tiêu tối thượng cho mọi mong ước của gã!
Gã đàn ông sờ vào cán dao. Băng vải quấn quanh cán gây cảm giác mềm mại. Nó uốn tựa vào lòng bàn tay gã, như thể nó được làm riêng cho gã.
Một nụ cười hiện lên trên đôi môi khô cứng và rạn nứt. Bằng một cử chỉ vội vàng, gã đàn ông rút món vũ khí ra khỏi cái bao đựng bằng da đã rạn.
Gã quan sát lưỡi dao. Trong ánh sáng của ngọn đèn dầu, nó gây ấn tượng như đang được phủ một lớp mỏng bằng máu. Lưỡi dao như đang sống, đang chuyển động, đang gửi thông điệp. Malraux lấy hơi thật sâu, xoay lưỡi dao rồi ép nó một thoáng lên môi mình.
Gã thấy thật dễ chịu, khi cảm nhận lưỡi thép đó, như thể nó đang thổ sức sống vào người gã.
Malraux lại hít một hơi thật sâu.
Gã hoàn toàn không đếm xỉa đến những rương đựng đồ và những chiếc hòm khác nằm trong phòng. Dĩ nhiên gã có thể dễ dàng mở một trong những chiếc hòm đó ra và vơ vét không biết bao nhiêu đồ quý giá nằm trong, nhưng chuyện đó cũng sẽ cướp đi của hắn những phút giây quí báu. Gã đàn ông đang muốn biến mất càng nhanh càng tốt. Gã muốn lên trên boong tàu, nhảy xuống nước và bơi vào bờ. Ngay cả khi bọn người kia có phát hiện ra gã, chuyện chắc chắn sẽ xảy ra, thì cũng sẽ không một kẻ nào có thể truy đuổi được gã. Chúng không thể làm điều đó được. Chúng phải đến Marseile càng nhanh càng tốt.
Gã cất con dao găm bên dưới cái quần cũ kỹ đã có giấu sẵn một bao dao, được làm rất tỉ mỉ cho chính món vũ khí này.
Malraux tỏ vẻ hài lòng.Việc còn lại của gã bây giờ chỉ là biến mất cho thật nhanh. Nhưng gã cũng phải cẩn thận, không được tỏ ra quá vội vàng. Đừng khinh suất! Nếu không mọi việc sẽ thành uổng phí.
Gã xoay người ra khỏi hòm chứa đồ.
Con tàu vẫn tiếp tục phăng phăng đi theo hướng định trước. Nó lướt trên đầu những con sóng rất dài, chuyển động nhẹ nhàng như đã biến thành một con chim.
Cũng có thể Malraux có cảm giác như vậy, bởi gã đang tiến gần thành công. Cảm giác đến mục tiêu mọi ước mơ của mình thật tuyệt vời, chỉ còn vài bước chân nữa là gã sẽ đến với chiến thắng chung cuộc.
Những con ruồi nặng nề bóng nhảy vo ve quanh xác chết. Chúng đậu cả xuống vũng máu, bây giờ đã được phủ một lớp màu thẫm bên trên. Gã đàn ông xoay người sang trái. Một tay của hắn đang cầm cây đèn dầu. Cây đèn chuyển động theo những nhịp chân hắn. Nó ném những vệt tối như những con ma u ám lên tường và xuống nền phòng, những con ma thật thích hợp với khung cảnh chết ***c xung quanh.
Người đang ngất nằm gần cửa ra vào. Malraux cân nhắc xem có nên giết cả người lính canh này hay không, nhưng rồi hắn bỏ ý định. Chẳng bao lâu người ta cũng sẽ biết ai là kẻ ra tay giết ***c và cướp đồ vật ở đây. Chẳng cần phải để lại thêm một xác chết thứ hai.
Gã bước qua thân người bất động. Đúng lúc muốn bước tiếp tới cửa dẫn ra ngoài thì gã nghe thấy một tiếng động thật khẽ. Malraux quay người lại. Nhưng…
Muộn rồi!
Một bàn tay đã nhanh như chớp tóm lấy cổ chân gã. Tóm rất mạnh và rất chặt, khiến Malraux kêu lên. Không bước tiếp được, gã ngã người sang bên, chiếc đèn rơi xuống nền phòng, vỡ toang.
Dầu chảy ra ngoài.
Những lưỡi lửa xuất hiện, tham lam như những ngón tay kẻ cắp. Lửa phụt thẳng vào vũng dầu.
Có tiếng gào nhẹ.
Thế rồi đám lửa bùng ra, bốc lên cao. Nó phun ra phì phì, nó nhuộm một màu đỏ ***i, bí hiểm và ma quái. Malraux nhìn thấy người vừa ngất nay đang chuyển động mà không buông chân hắn ra. Anh ta muốn bám vào hắn, lấy chỗ kéo để đẩy người lên. Anh ta vẫn còn chưa hết choáng váng, ánh mắt còn đờ đẫn, miệng và mặt nhăn nhúm.
Tình thế báo hiệu một kết cục u ám.
Ngọn lửa mỗi lúc một ngoạm thêm nguyên liệu. Chỉ còn vài phút nữa thôi, nó sẽ lan rộng qua xung quanh. Ngay bây giờ đã có một luồng khói gay gắt bốc lên cao, khiến đôi mắt của người lính gác chảy nước.
Malraux không dùng cây dao găm, mà nắm bàn tay trái lại thành quả đấm. Gã đàn ông ra đòn vô cùng tàn bạo.
Nắm đấm bay thẳng vào đầu người đối diện. Lần này, gã đấm ba cú liên tiếp. Lực bám vào cổ chân hắn lỏng ra. Thế rồi bàn tay trượt xuống, người lính gác lại ngã đập xuống mặt phòng, lăn người một vài vòng nhảy nhót trên nền gỗ.
Malraux đứng bật dậy.
Gã thừa hiểu, gã không còn thời gian để dập tắt đám cháy. Ngọn lửa có quá đủ con mồi quanh đây và chẳng bao lâu, nó sẽ biến cả con tàu thành địa ngục lửa.
Cho tới lúc đó, gã phải rời khỏi boong tàu.
Họ ngập ngụa, mắt trào nước, gã đàn ông leo ra khỏi phòng. Gã đi lảo đảo trên hành lang, thỉnh thoảng đập người vào vách tường, giơ tay sờ cán dao găm và vui vẻ khi biết rằng món vũ khí vẫn còn nguyên vẹn bên người hắn. Chắc chắn nó sẽ bảo vệ cho hắn.
Gã phải lên được boong tàu càng nhanh càng tốt, trước khi có người nhận ra đám cháy. Làn khói gay gắt bây giờ đã cuộn sang nơi khác. Gã đàn ông không nghĩ đến chuyện đánh thức những người đang ngủ. Gã để mặc kệ cho họ xoay trở với tình huống bất ngờ.
Malraux lao người qua một cánh cửa thấp. Đi đến boong, gã cúi xuống, ẩn đằng sau những cuộn dây lớn. Xung quanh hắn không có ai. Gã nghe loáng thoáng những tiếng người từ xa, trên đầu hắn là tiếng phần phật của cánh buồn trong gió. Gã cũng nghe tiếng nước đang chảy quanh mạn tàu, nó cho gã niềm hy vọng và gã lén về hướng đuôi tàu.
Thế rồi gã trèo lên được mỏm gỗ cuối đuôi tàu. Đứng trên đó và nghe thấy một tiếng kêu lảnh lót, biểu lộ tất cả những nỗi kinh hoàng khi con tàu bị cháy.
Lửa…! Cháy! Lửa!
Có ai đó giật chuông báo động.
Những tiếng kêu của nó vang lên đồng thời với bước nhảy gọn gàng của Malraux xuống dưới sâu, xuống dưới mặt nước màu xanh xám, xuống với luồng nước cuồn cuộn sáng.
Chỉ một tích tắc sau, luồng nước nuốt chửng lấy hắn. Chính xác hơn là chở che cho hắn trong vòng tay mênh mông.
Nếu có thể, gã đàn ông bây giờ sẽ cười thật lớn. Nhưng vì đang ở dưới nước, gã chỉ nghiến hai hàm răng, lòng vô cùng sung sướng.
Thật sâu, biển sâu nhưng gã có cảm giác êm đềm lạ! Gã lặn xuống dưới và bơi với những cánh tay quạt rất mạnh về hướng Bắc, về hướng bờ biển của nước Pháp. Gã phải lên được bờ biển đó và phải bước lên bờ trong một đoạn vắng người. Những đoạn vắng người như thế ở đầu này rất nhiều. Malraux không biết bao nhiêu thời gian đã trôi qua. Thiếu không khí, gã đàn ông trồi lên trên. Gã lấy hơi, tràn đầy hai lá phổi, và không quay nhìn lại, bởi mỗi giây đồng hồ bây giờ đều vô giá. Gã biết mỗi con tàu khi chìm xuống đều gây ra những vũng nước xoáy rất mạnh, kéo xuống dưới sâu tất cả những gì đang tình cờ có mặt quanh nó. Lúc đó thì kể cả những người bơi giỏi nhất cũng không còn cơ hội.
Gã bơi, rồi lại ngẩng lên lấy hơi, rồi lại tiếp tục bơi, và tới một lúc nào đó, Malraux dừng lại ở mặt nước bên trên.
Lúc bấy giờ gã mới quay đầu nhìn lại.
Nằm dài theo dọc luồng nước, gã nhìn về hướng sau.
Gã nhìn thấy chiếc tàu buồm.
Trên đầu nó bây giờ là một đám mây khói đặc kịt, tỏa rộng ra xung quanh. Trong lòng đám mây nhảy nhót vô vàn những lưỡi màu đỏ thẫm đang trèo lên cánh buồm. Con tàu bây giờ đã nghiêng về hướng sau và sang bên trái. Chẳng bao lâu nữa, nó sẽ chìm xuống nước.
Gã đàn ông bật cười.
Gã cười như chưa bao giờ cười trong cuộc đời của gã, cho tới khi một làn sóng chạy ngang phủ xuống đầu gã, bóp nghẹt tiếng cười. Gã đàn ông bơi tiếp.
Bây giờ thì gã biết rõ là gã sẽ đến được mục tiêu của mình.
Gã sẽ đến được bờ biển và chẳng bao lâu nữa gã sẽ thuộc vào một trong những kẻ quyền thế của đất nước này.
Con dao găm sẽ mang lại cho gã quyền lực đó…
nvdtdnguyen
21-02-2007, 07:44 PM
Chương 3
Malraux quả đã bơi được vào đất liền và đi lên bờ. Đối với gã, đó là một ngày tuyệt vời. Sóng biển gần bờ không đến nỗi quá mạnh, gã có thể bơi vòng tránh những dãy núi đá có thể gây nguy hiểm. Tới nơi, gã nằm thật lâu trên nền cát mềm mại cho đến khi mặt trời ngả đầu về hướng Tây và cuối cùng, biến mất trong mặt nước biển.
Malraux không biết chính xác gã đã bơi cụ thể vào địa phương nào. Nhưng gã biết, dọc khúc bờ biển này của nước Pháp có rất nhiều khu dân cư và nhiều làng chài nho nhỏ. Ở đó gã cũng sẽ kiếm được chút gì để ăn. Gã đàn ông nghĩ như vậy và lên đường. Không khí không còn quá nóng như lúc ban trưa.
Gã tiến tương đối nhanh. Những vách núi đá vẫn còn tỏa ra một chút hơi nóng mà chúng thu lượm được trong ngày, đã khiến cho cơn khát trong hắn dâng lên. Ở đây không có nguồn nước, kể cả mảng thực vật cũng sơ sài. Nhưng đi thêm chút nữa, gã thấy hiện ra những túp lều, những ngôi nhà đầu tiên. Một khu dân cư nho nhỏ, nằm lọt thỏm trong một cái vịnh. Nơi sinh sống của dân đánh cá.
Gã lẻn vào ngôi làng.
Gã tìm được nước. Gã nhìn thấy một cái giếng bên cạnh một ngôi nhà. Trên thành giếng có để một cái gàu bằng gỗ. Gàu đầy nước, gã đàn ông cúi xuống, uống thỏa thê.
Có ai đó bước tới.
Đó là một người đàn ông già nua, dáng điệu hiền lành. Ông ta gật đầu với gã.
- Anh từ xa tới đây phải không?
- Vâng.
Người đàn ông ấy quan sát hắn bằng vẻ kiểm tra, nhưng không nói gì. Malraux không thích bị nhìn bằng ánh mắt như vậy. Hắn đã muốn quay lưng đi thì ông già lên tiếng mời hắn vào nhà ông.
- Ông có phải là dân đánh cá không? – Malraux hỏi cố giữ lễ phép.
- Có thể nói như vậy.
- Tôi vào nhà ông để làm gì?
- Anh không muốn ăn gì hả?
- Có chứ. – Gã đáp vẻ mừng rỡ, bởi vì gã đang đói.
- Thế thì vào đây.
Ngôi nhà được xây bằng những hòn đá sáng màu. Nó chật chội và tối tăm, bởi những khoảng hở nhỏ trên tường chẳng có ánh sáng lọt vào. Malraux thấy rất dễ chịu với không khí lành lạnh trong nhà, cũng như với luồng sáng tỏa ra từ những cây nến đặt trong một chiếc đĩa gỗ để giữa bàn.
Ông già ngồi đối diện với hắn và nhăn một vài lần sóng mũi cong cong của mình.
- Anh bốc lên mùi muối và nước, mặc dù người anh đang khô. Anh bơi từ biển vào đây hả?
- Vâng.
- Anh bơi rất lâu phải không?
- Vâng. – Hắn luôn muốn tiết kiệm lời nói.
- Tôi đã nhìn thấy khói bốc lên từ biển khi tôi đứng trên một vách đá. Có phải thuyền của anh bị cháy không?
- Vâng.
Người đàn ông tóc bạc mỉm cười, đứng dậy và bước đến gần một chiếc giá bằng gỗ.
- Anh muốn ăn phải không?
- Ông có gì nào?
- Cá. Cá khô. Được phơi giòn dưới ánh nắng mặt trời. Tôi cũng có bánh mì và rượu vang.
- Vâng, thế thì tốt.
Người đàn ông già nua phục vụ hắn. Ông ta làm điều đó với một vẻ tự nhiên khiến Malraux phải kinh ngạc. Vì không quen với kiểu hiếu khách như vậy, gã đàn ông đâm nghi ngờ và cẩn trọng. Hắn không muốn bị rơi vào một sự ngạc nhiên độc ác.
- Chúc anh ăn ngon miệng!
- Cảm ơn.
Cá rất ngon, không mặn quá, và rượu vang thì hơi lành lạnh, khiến cổ họng và dạ dày Malraux mừng vui. Gã mừng vui vì mọi thứ đã nằm lại sau lưng, nhưng gã không chịu được ánh mắt quan sát của ông già. Khuôn mặt ông đang nhảy nhót và méo mó một cách lạ kỳ đằng sau ánh nến.
Gã vẫn chưa tin tưởng ông già.
- Cho tôi thêm chút nước được không?
- Cả rượu vang nữa chứ.
- Không, chỉ nước thôi.
Ông già gật đầu, đứng dậy và bước ra hướng ngoài. Malraux không nghe thấy ông ta làm gì ngoài đó. Chỉ tới khi nghe tiếng rít của dây thừng bên giếng và tiếng cọt kẹt của gỗ vang lên, gã mới thở ra hài lòng. Với một can đầy nước trong tay, người đàn ông tóc trắng quay trở lại.
- Ông sống một mình sao? – Malraux hỏi.
- Chẳng phải bao giờ cũng một mình.
- Thế còn ai sống trong nhà ông nữa?
- Lần thì người này, lần thì người nọ. – Ông ta đổ nước từ can vào cốc.
Malraux uống. Nước lạnh làm mát từng tế bào cơ thể khiến hắn tỉnh cả người.
- Nhưng ông không phải là dân đánh cá?
- Tại sao không?
- Tôi quen nhiều dân chài. Ở ngoài kia đã bắt đầu tối rồi. Bây giờ là lúc người ta sửa soạn lưới.
- Tôi già quá rồi.
Ông già lại ngồi xuống, và nét mặt của ông nhợt nhạt đằng sau ánh nến. Khi đặt thêm một câu hỏi nữa, ông chủ nhà khiến khách suýt nghẹn.
- Anh có phải dân Templer không? Anh là một người trong số họ hả?
Malraux im lặng. Gã uống và ăn con cá cuối cùng. Ông chủ nhà để cho hắn thời gian suy nghĩ, rồi sau đó mới nhắc lại câu hỏi, tới lúc đó Malraux mới phản ứng.
- Tại sao tôi phải là một người của dòng đạo Templer?
- Bây giờ người ta rất hay gặp họ. Họ đang bị truy đuổi như những con thú. Người ta đang bám sát lấy chân họ. Cả nhà thờ Thiên Chúa giáo, kể cả mật thám của nhà vua cho đến Giáo hoàng cũng đã đưa ra những đội quân riêng. Người ta sẽ tóm lấy họ, sẽ ném họ vào nhà tù và tra tấn.
- Tôi biết.
- Anh có phải là người của dòng đạo Templer không? – Ông già cương quyết hỏi. Một phần những từ ngữ của ông có vẻ như đang bị những lưỡi lửa nến nuốt chửng.
Malraux muốn nhận ra ánh mắt rình mò hiểm độc trong giọng nói đó, nhưng gã không tìm được.
- Ông sẽ làm gì nếu gặp một người của dòng đạo Templer?
- Tôi chưa rõ.
- Ông có giao nộp anh ta không?
- Không! – Ông già lắc đầu. – Đầu tiên tôi sẽ thử tìm hiểu. Nếu anh ta là một người tốt thì tôi sẽ che giấu cho anh ta. Nếu anh ta là một con quỷ thì tôi sẽ thả anh ta ra cho bọn người truy đuổi. Anh thấy đấy, tôi là người trung thực. Giờ thì anh có thể nói ra sự thật.
Malraux nheo hai con mắt lại.
- Đối với ông cái gì là tốt, cái gì là xấu? Ông làm cách nào mà biết được?
- Một số người vốn theo đạo Templer nay đã biến đổi niềm tin vào đạo giáo của họ. Như thế là không tốt, bởi bây giờ thì họ phục vụ cho quỷ dữ. Cũng có thể họ không còn cơ hội khác, bởi họ bị bỏ rơi. Điều đó có thể xảy ra. Người ta luôn phải tính đến trường hợp đó, đúng không?
- Tôi không phải là người của dòng đạo Templer. – Gã quyết định phải nói như vậy. – Thế nhưng ông biết nhiều về họ ư?
- Đúng, những ai đã trở nên già nua như tôi, người đó đã từng trải qua rất nhiều sự kiện. Người đó nhìn thấy nhiều thứ và họ thường chẳng được những người trẻ tuổi hơn cao trọng. Thế nhưng những người tuổi trẻ tuổi đó quên rằng kể cả người già cũng có mắt để nhìn và tai để nghe. Và cùng với tuổi già, họ có một sự khôn ngoan nhất định mà những người trẻ tuổi không có được. Tất cả những ai cười giễu một người già nên nghĩ tới những điều đó. Tôi biết rồi thế nào cũng có chuyện xảy ra, để thống nhất, họ đã từ lâu chia ra làm hai phe. Nhưng tôi cũng biết người ta không thể hủy diệt được họ, bởi họ sẽ luôn luôn tìm cách tụ hội lại với nhau, tạo thành một cách liên hợp mạnh mẽ.
- Ông có phải là phù thủy không?
Ông già lắc đầu.
- Tôi chỉ là một người khôn ngoan, anh bạn trẻ ạ. Chỉ khôn ngoan thôi…
Đột ngột, Malraux cảm thấy bối rối và kinh hãi trước người đàn ông. Gã không biết gã phải xử trí như thế nào. Gã phải ở lại đây hoặc là biến đi? Phải đấm gục ông già xuống, phải giết ông ta để xóa đi một dấu vết? Hay là gã cứ đơn giản để sự kiện xảy ra và tiếp tục thử thách ông già thêm một lúc nữa?
- Những ý nghĩ anh đang có trong đầu là không tốt đâu, anh bạn trẻ. Hãy nghe lời tôi, chúng không mang lại lợi ích gì.
- Ông biết thế thật sao? – Gã gần như rúng động.
- Đúng, sự khôn ngoan mách bảo cho tôi như vậy. – Ông già vẫn cứ giữ cái giọng đều đều.
- Thế thì nói cho tôi biết, tôi là ai.
- Anh đang trên đường chạy trốn. Anh đã làm một điều gì đó, có thể là một chuyện hết sức quan trọng và quyết định đối với khoảng đời trước mắt của anh.
- Tôi đã làm gì?
- Nếu anh không tự kể cho tôi, thì tôi cũng không biết đâu. Tôi không phải là phù thủy.
Malraux gật đầu. Thế rồi gã mỉm cười, cân nhắc, và cuối cùng ra quyết định. Gã đưa bàn tay phải lên cái cán được quấn vải của con dao găm, nhưng chưa rút hẳn vũ khi ra khỏi bao. Thay vào đó gã nói:
- Bây giờ tôi sẽ chỉ cho ông một vật điều mà ông nên coi là một bằng chứng của lòng tin. Nếu ông thật sự khôn ngoan và biết rất nhiều, chắc chắn ông đã nghe nói đến chuyện này rồi. Đúng, tôi tin chắc như vậy.
Trước khi ông già kịp phản ứng, Malraux đã rút cây dao găm ra và đặt nó trên bàn.
Bây giờ nó nằm đó. Được ôm ấp bởi ánh sáng của những ngọn nến, khiến cho những đường nét của nó mềm ra, cứ như thể nó có thể tan chảy ra bất cứ lúc nào. Nhưng nó vẫn nằm lại và ông già bị lay động mạnh mẽ đến mức ông bất giác lắc đầu. Ông giơ hai cánh tay lên, áp chặt hai bàn tay vào hai bên má và những thớ thịt phủ làn râu màu trắng của ông giần giật. Đồng thời, răng ông đánh lập cập vào nhau. Cơn ớn lạnh tóm chặt lấy ông, như bị bao vây bởi một nhà giam và Malraux e rằng hắn vừa phạm một sai lầm khủng khiếp.
- Ông sao thế?
Ông già không nghe thấy lời hắn.
- Trả lời đi! – Hắn nói to.
- Không, không…
Malraux không buông tha.
- Ông biết món vũ khí này, đúng không? Chính ông đã biết nó. Chắc ông đã nhìn thấy nó một lần, ông bạn. Ông biết nó trong hoàn cảnh nào?
Phải qua một khoảng thời gian khá lâu, người đàn ông già nua mới cất lên thành tiếng. Ông ta thở nặng nề. hai con mắt anh ánh nước. Vội vàng, ông uống một vài ngụm rượu vang. Thế rồi ông hạ đầu xuống, thì thào trả lời:
- Nó là một công cụ của quỷ Satan, một dấu hiệu độc ác. Anh đã mang con quỷ vào nhà tôi. Anh đã gọi hồn nó dậy. Anh là một tay chân của địa ngục!
May mắn làm sao, ông già chỉ lào thào, thì thầm, bởi Malraux không muốn bất kỳ một ai khác nghe thấy những từ ngữ đó. Cố gắng lắm gã mới giữ được bình tĩnh, ngồi im và chỉ nở một nụ cười hiểm ác trước khi cất tiếng nói.
- Tôi vẫn chưa hiểu nó theo phương diện này. Tôi chỉ biết, con dao xuất xứ từ vương quốc của đạo Hồi. Nó có nguồn gốc từ châu Á…
- Con dao này là của hắn!
- Ai kia! – Gương mặt hắn giãn ra.
- Của quốc vương Harun El Basra. Nhóm đạo Templer đã ăn cắp nó. Nhóm đạo Templer muốn giữ con dao này. Họ biết rõ con dao này có sức mạnh như thế nào. Họ đã giấu con dao này trong quan tài của một người đã chết, đúng không?
- Ông biết nhiều đấy.
- Đúng, tôi biết nhiều. Tôi đã nghe một nhóm người nói chuyện về nó, nhưng đó là nhóm Templer thứ hai, những kẻ bây giờ quay sang phục vụ cho quỷ sứ, bọn tay chân của quỷ Satan bây giờ muốn chiếm lấy con dao, bởi con dao này bị quỷ ám. Nó là cái Ác. Người mang nó cũng sẽ là người ác. Anh ta chỉ nghĩ rằng anh ta đã điều khiển được nó, và con dao sẽ nghe lời anh ta, nhưng đó là một sự nhầm lẫn nghiêm trọng. Công cụ của quỷ dữ không bao giờ nghe lời một con người. Công cụ của quỷ dữ được làm ra cho quỷ dữ, chứ chẳng phải cho con người như chúng ta. Nó sẽ mang lại thảm họa cho chúng ta. – Ông già nói tiếp, giọng thống thiết. – Nó sẽ không mang lại may mắn cho anh đâu. Vì thế hãy nghe lời tôi khuyên. Cầm lấy nó, bước ra những vách núi ở ngoài kia, và ném nó xuống nước, ném nó xuống chỗ biển sâu nhất.
Malraux mỉm cười. Ông già muốn dùng những câu nói để cảnh báo, nhưng chỉ đạt được ở gã đàn ông này một hiệu quả ngược lại. Bây giờ gã mới thật sự quý mến món vũ khí vừa ăn cắp được. Dĩ nhiên, gã hiểu là tóm được con dao trong tay là gã sẽ đạt tới một cấp bậc quyền lực nhất định và nôn nóng muốn thử thách quyền lực đó. Gã tiếp tục mỉm cười, chuyển động bàn tay cho tới khi đặt bên mép bàn, từ từ đưa nó về hướng con dao. Bàn tay bò tới như một con rắn đang dần dần rút ngắn khoảng cách chỗ con mồi.
Ông già không nhìn thấy điều đó. Ông đang bị sốc. Ông ngồi cúi người về phía trước, chống khuỷu tay lên mặt bàn và đưa cả hai tay che mặt.
Malraux vẫn tiếp tục mỉm cười. Gã bây giờ trông giống một con quỷ hơn là con người.
Con dao găm là điều quan trọng.
Bây giờ càng quan trọng hơn lúc nào hết.
Hắn trườn bàn tay tới và đột ngột dừng lại. Nó nằm im lặng ở đó, như những móng vuốt nhợt nhạt của một người đã chết, bởi hắn cảm nhận rằng hắn không cần phải đẩy tay tới nữa. Hắn đã chạm vào vũ khí.
Malraux có cảm giác như hắn và con dao găm bây giờ đã được nối với nhau bằng một cây cầu. Một cây cầu tinh thần, mạnh mẽ đến mức độ không một kẻ nào có thể chia cắt.
Hắn và con dao găm thuộc về nhau. Ý nghĩ đó quay cuồng trong đầu óc gã đàn ông. Gã có cảm giác như một thế lực xa lạ và hoàn toàn khác biệt đang để lại cho hắn một thông điệp, nhưng thông điệp đó chưa đến được với đầu óc hắn, bởi còn quá nhiều vật trở ngại trên đường đi, những trở ngại phải được dọn dẹp.
Một khi những chướng ngại vật này bị tiêu diệt, sẽ không kẻ nào, không vật gì ngăn cản được hắn nữa.
- Mi thuộc về ta. – Gã thì thào, ông già không nghe thấy vì tiếng nức nở của ông đang to hơn giọng gã đàn ông nói. – Mi thuộc về ta, về ta chứ không phải một kẻ nào khác. Ta đã đi kiếm mi, ta đã tìm thấy mi, ta đã giải thoát cho mi và ta muốn mi chỉ nghe một mình mệnh lệnh của ta, chỉ nghe theo một mình ta. Chừng nào ta còn sống, chừng nào ta còn đủ sức mạnh để cầm mi lên, cả hai chúng ta sẽ là những chiến hữu của nhau. Ta muốn mi dẫn đường cho ta, cũng như ta muốn mi để ta dẫn đường mi. Ta muốn chúng ta tạo thành một đơn vị thống nhất, bởi chúng ta thuộc về nhau. Hai chúng ta đã đi tìm nhau, và đã tìm thấy nhau. Mi là cứu tinh của ta, và ta đã là cứu tinh của mi. – Gã đàn ông hơi cúi đầu xuống, nhìn chăm chăm vào mũi dao. Mũi dao có vẻ như biến dạng dưới ánh nến và ngày càng gây ấn tượng mạnh mẽ hơn là nó có thể chảy ra bất cứ lúc nào.
Malraux mỉm cười. Gã chỉ nhìn thấy một con dao găm đó, gã tập trung toàn nội lực vào nó và đồng thời vào một yếu tố khác.
Vào hai cái chết, vào việc giết người!
Cả hai luồng điện đó gặp nhau, bổ sung lẫn cho nhau và mạnh mẽ hơn hẳn trong lưỡi dao có pháp thuật, giải tỏa cho toàn bộ sức mạnh của nó bùng nổ ra ngoài.
Con dao chuyển động!
Người ngoài nhìn không ai hiểu được, bởi nó xoay mặc dù không có bàn tay nào chạm vào nó.
Chỉ qua sức mạnh tinh thần và sức mạnh của chính nó. Bởi nó cũng chính là chủ nhân.
Malraux nghe thấy tiếng gã cười. Không phải tiếng cười vui vẻ và tự do, mà vất vả và ngạc nhiên. Những cảnh tượng đầu tiên xuất hiện trước con mắt tinh thần của gã. Gã có cảm giác như mình là một siêu nhân đang ném được một cái nhìn vào tương lai và biết được quyền lực của bản thân.
Gã cùng món vũ khí của quỷ Satan.
Gã và cái Ác!
Những bóng tối của ánh nến nhảy nhót trong mắt gã. Trông Malraux thật độc ác, như một con quỷ đã nhập vào hình người, đang ngồi bên một cái bàn bình thường.
Gã ra lệnh đầu tiên.
- Lên cao!
Con dao phản ứng. Nó đột ngột bay dọc mặt bàn và dừng lại ở một độ cao ngang với khuôn mặt của người đàn ông già nua. Khuôn mặt đang được che sau hay bàn tay.
Con dao xoay tròn.
Nó xoay từ từ, hầu như đang ra vẻ thích thú. Có lúc nó hướng mũi dao về hướng Malraux, rồi sau đó lại xoay về hướng gã đàn ông cái cán được quấn vải. Cái cán đang kêu kên khe khẽ, như thể làn chất liệu quấn cán đang tung ra những tia lửa li ti.
Một điều kỳ diệu.
Một pháp thuật độc ác, quỷ quái, và Malraux cảm giác hắn là người bất khả chiến bại. Con dao găm này là tất cả những gì mà gã mong ước trên đời. Gã hoàn toàn không thể tưởng tượng được, đấy là một kẻ hầu người hạ tốt nhất, chung thủy nhất. Nó đơn giản có một không hai, nó tuyệt vời, nó sẽ nghe lời gã. Nó chỉ nghe theo những dòng suy nghĩ của gã và làm tất cả những gì mà gã yêu cầu.
Gã sẽ chỉ cho kẻ thù của gã biết, ai là kẻ mạnh hơn. Nhưng kẻ thù của gã hiện thời đang ở đâu?
Malraux đã biết câu trả lời, và nụ cười quái gở trên gương mặt của gã mỗi lúc một rộng hơn, một quỷ quái hơn.
Cho tới nay, gã chỉ nói chuyện lý thuyết với mình. Thế nhưng cơ hội thí nghiệm rõ ràng đang nằm trong tay gã. Gã đưa ánh mắt nhìn về người đàn ông già nua. Ông ta đã đưa gã vào nhà của mình, ông ta đã tiếp đãi gã như một vị khách, nhưng ông ta đứng về phía bên kia.
Đó là điều ngu xuẩn nhất của ông ta!
Con dao vẫn xoay tròn trong không khí. Malraux muốn nó dừng lại, gã ra lệnh đanh gọn:
- Thôi.
Món vũ khí tuân lời. Nó xoay một lần nữa, rồi dừng lại, chỉ vào cổ của người đàn ông già nua, một cần cổ được phủ bằng một lớp da mỏng, nhăn nheo, rám nắng. Cái cần cổ giật lên giật xuống cùng huyết hầu theo mỗi lần nuốt.
- Này, ông già… - Hắn cất giọng.
Ông ta không chịu nghe thấy.
Malraux cảm nhận rõ nỗi giận dữ và căm hờn ông già lớn lên trong tâm khảm hắn. Việc ông ta không nhìn gã cũng có thể coi là biểu thị sự khinh thường. Trước đây một vài giờ đồng hồ thì gã còn chịu đựng được, nhưng bây giờ thì không.
Không bao giờ nữa…
Không đời nào!
Và gã ra lệnh cho con dao găm.
- Giết!
Món vũ khí vẫn trực chỉ cái đầu nhọn của nó vào cần cổ nhăn nheo của ông già. Thế rồi nó chồm về phía trước. Malraux nghe một tiếng gừ khe khẽ khi mũi dao xé gió lướt tới. Một tích tắc sau đó, con dao đã tìm thấy mục đích, và cắm phập vào cổ họng của người đàn ông già nua.
Ông già thậm chí không kịp kêu lên một tiếng. Máu chảy tràn vào khoang miệng ông, xuất hiện những bóng tối trước mắt ông, kéo ông vào cõi chết.
Malraux ngồi trên ghế và quan sát toàn bộ cảnh tượng đó với mối quan tâm lạnh lùng. Chỉ tới khi suy luận ra những tương lai nào đang đứng trước mặt gã, Malraux mới cảm thấy sống lưng gã rởn nhẹ. Một tương lai bóng loáng, được đúc bằng vàng. Gã có thể nhảy lên mà hò reo vì mừng rỡ, nội tạng của hắn bây giờ đang chìm ngập trong những lưỡi lử hả hê.
Người đàn ông già nua ngã xuống đất và ngã ngửa.
Tiếng động kéo tên giết người ra khỏi trạng thái đờ đẫn. Gã đàn ông quỷ ám đứng dậy, đi vòng quanh bàn và nhìn xuống người đã chết.
Khi rút con dao găm ra khỏi vết thương, Malraux khích khích cười…
Chương 4
Malraux ra khỏi ngôi nhà của người đàn ông. Gã đứng trong bóng tối và tận hưởng màn trời đêm lành lạnh cùng ngọn gió đang vuốt ve mặt hắn.
Chẳng phải chỉ đêm nay thuộc về hắn, cả tương lai cũng là của hắn. Malraux bây giờ đã nắm trong tay một quyền lực và nếu hắn biết khéo léo tận dụng nó, hắn không phải chỉ có thể nhân đôi nó lên, hắn có thể nhân mười nó lên, nhân trăm nó lên. Những suy nghĩ quay cuồng trong đầu óc và gã đàn ông như sa vào một cơn say, tưởng tượng như gã đang bay lên khỏi mặt đất, bay qua những vách núi đá kia, bay ra tới biển.
Tuyệt vời! Tuyệt vời! Tuyệt vời!
Gã rời ngôi làng. Tới một lúc nào đó người ta sẽ tìm thấy xác ông già và hỏi kẻ nào là thủ phạm? Nhưng điều đó không khiến gã băn khoăn, bởi không một ai nhìn thấy gã. Không một câu trả lời nào đúng cả.
Sau bữa ăn, gã cảm thấy mình đã khỏe trở lại, bất chấp những cố gắng của ngày hôm trước. Gã thấy mình đủ sức để đi bộ tới một khu dân cư lớn hơn, nơi gã có thể an tâm trà trộn vào dân chúng trong thời gian đầu. Để tồn tại, hắn cần có tiền hay vàng. Gã sẽ có cả hai thứ đó dưới sự trợ giúp của con dao găm.
Con dao bây giờ là bạn gã, là đối tác, và trên con đường đi qua bóng đêm, gã vừa đi vừa luyện tập với nó.
Lần này con mồi của chúng không phải là người nữa, mà là những con thú không kịp tránh. Gã truy lùng những con thỏ, gã giết rắn, điều này khiến gã vô cùng vui mừng, bởi gã thấy con dao của gã nhiều khi chuyển động còn nhanh hôn cả loài bò sát.
Màn đêm khiến gã hứng thú.
Cứ mỗi khi đâm chết được một con thỏ, gã lại sung sướng hít vào người hơi máu nóng. Gã biết rất rõ, cái mùi này sẽ còn bám theo gã suốt đời. Năm này qua năm khác, nạn nhân này qua nạn nhân khác…
Đến khi bình minh thức dậy thì gã phải trốn tránh, bởi có một nhóm lính dạo quanh khu vực. Gã để cho nhóm lính đi qua, rồi xoay hướng bước theo họ trên một con đường nhỏ. Gã giữ khoảng cách gần, để luôn luôn nhìn thấy mùi bụi vẩn lên sau chân họ. Điều duy nhất gã quan tâm bây giờ chỉ là món vũ khí. Nó khiến gã cảm thấy mạnh mẽ, vô cùng mạnh mẽ.
Khi bình minh đã chiếu sáng bầu trời từ phía đông, gã đàn ông vẫn thấy chưa mệt mỏi. Gã có cảm giác như người vừa đủ, bởi gã vô cùng tin chắc vào việc làm của mình.
Băng qua một con suối nhỏ bằng một cây cầu cổ bằng đá, gã nhìn thấy những nóc nhà của một thành phố nhỏ nhô lên, màu trắng xen lẫn xám, rải rác
trong một thung lũng con con và trên cả triền núi. Trên triền núi có cả một nghĩa trang nhỏ. Cách chỗ gã đứng không xa, ngay bên cạnh ngọn tháp của ngôi nhà thờ là một ngôi nhà trông có vẻ rộng rãi, to lớn. Gã đàn ông chọn nó làm mục tiêu. Những người sống trong một ngôi nhà như thế này chắc chắn phải rất giàu có và hoàn toàn có thể chia sẻ một phần sự giàu có đó cho gã.
Đó là ngôi nhà của một thương gia.
Chỉ cần hỏi một vài người trong khu vực xung quanh, gã đã tìm ra điều đó. Hai giờ đồng hồ sau, gã nấp trong khoảng vườn của ngôi nhà. Khoảng vườn không phải chỉ được bảo vệ bởi những bước tường, mà có cả một vài nô lệ da đen. Họ không nhìn thấy gã, họ chỉ nhìn thấy con dao găm, nhưng ở những thời điểm quá muộn màng.
Gã đi vào trong nhà.
Gã cảm nhận một sự mát lạnh đến tuyệt vời bên trong ngôi nhà. Những khoảnh ao và những vòi phun nước ngoài vườn khiến ngôi nhà không chỉ mát dịu mà còn làm xuất hiện cả những bóng đen. Hắn biết rằng chủ nhân ngôi nhà đã sống một vài năm ở miền Trung Cận Đông và đã đưa một vài nét kiến trúc ở đó về nước Pháp.
Gã tìm thấy người đàn ông trong vườn, ông ta đang nằm dài trên một chiếc ghế sofa. Một người đàn ông béo phì với một cái bụng tròn như quả bóng, một gương mặt múp míp như mặt lợn, lơ thơ vài sợi tóc trên đầu.
Gã chơi trò mèo chuột với người đàn ông.
Gã chỉ cho ông ta biết con dao của gã có thể làm được gì. Nó không phải chỉ biết giết, nó cũng có thể gây ra những vết thương, hoàn toàn như ý của chủ nhân của nó muốn.
Vậy là ngay lập tức, Malraux trở thành giàu có.
Tên giết người rất muốn mang thêm, nhưng sức vác của hắn chỉ có hạn. Số vàng này sẽ đủ cho việc khởi đầu một tương lai mới.
Thêm một lần nữa, gã ra lệnh cho con dao găm bằng thứ giọng lạnh tanh mùi máu:
- Giết!
Nười thương gia giàu có chết với một tiếng rên nho nhỏ trên môi khi chưa kịp hiểu vì sao phải chết.
Malraux rời căn nhà, cảm giác cả thể giới đang mở ra dưới chân gã, thuộc về gã.
Và thế là gã đàn ông mang lốt quỷ biến ra khỏi miền Nam nước Pháp, lặn thật sâu. Thỉnh thoảng người ta lại tìm thấy một vài dấu vết mơ hồ của hắn, những dấu vết chỉ rất ít người trong cuộc biết đến.
nvdtdnguyen
22-02-2007, 05:52 PM
Chương 5
Bá tước Dean Ellroy đưa cả hai tay cầm lấy tấm vải phủ bằng lụa, rồi giật nó lên cao.
Trong một thoáng, miếng lụa trôi bồng bềnh như một thiên thần dang cánh trên thân hình người vợ đã chết của ông, nhợt nhạt và cứng đờ. Bà nằm trên giường ông, mặc một bộ áo ngủ bằng lụa. Ở khoảng chính giữa, ngang với tầm cao của trái tim, nền lụa hiện rõ một vết màu đỏ. Công cụ chết ***c đó đã đâm trúng bà ở chỗ này.
Tấm vải phủ xuống, tấm vải màu tang.
Nó tỏa ra, trùm lên toàn bộ thân hình của người đã chết, cứ như Eireen cần phải được xóa khỏi ký ức của người chồng.
Với những bước chân nặng nề, bá tước Dean Ellroy rời khỏi phòng ngủ. Những suy nghĩ trong đầu ông xoay quanh Eireen. Ông biết, không một ai có thể trốn tránh được số phận của mình. Cả ông cũng không…
Ông đi qua ngôi nhà, thấy nó trống vắng đến tận cùng vì không có Eireen.
Người hầu kẻ hạ đã được ông gửi đi chỗ khác. Người chồng ngồi xuống phía sau bàn viết, vùi mặt vào giữa hai bàn tay. Bá tước Dean Ellroy bật khóc, ông khóc thương cho Eireen, người đã chết thay cho ông, bởi người mà con dao đó muốn hạ thủ là chính bản thân ông. Chỉ bởi Eireen thay đổi giường ngủ trong đêm nên Thần Chết đã tóm lấy bà. Bản thân ông đến câu lạc bộ và nghỉ đêm tại đó. Eireen biết tất cả, và không nói một lời nào. Cả đời bà là người ít nói, nhưng bà yêu ông bằng tất cả trái tim, cũng như ông yêu bà vậy.
Giờ thì bà đã chết.
Bà bị giết bởi một lời nguyền rủa mà lẽ ra không được tồn tại. Bị giết bởi một thứ vũ khí có tồn tại đấy, nhưng không hiện hình, bởi không ai nhìn thấy nó. Món vũ khí được điều khiển bởi những thế lực ma quỷ và bản thân ông là một trong rất ít người biết được điều này.
Có kẻ nào đó đã lôi nó ra khỏi nơi cất giữ. Kẻ đó muốn dùng món vũ khí này để diệt trừ những người đàn ông đáng kính trọng, và ông biết, một vài thành viên trong nhóm hội ăn thề của ông đã qua đời, tại nước Mỹ, tại châu Á, một người ở Berlin.
Bây giờ đến ông.
Bá tước Dean Ellroy thở nặng nhọc. Ông là một người đàn ông cao lớn có mái tóc đã xám trắng, khuôn mặt thon nhỏ với đôi mắt đại bàng tinh tường, một đôi mắt có thể nhìn thấu đến tận đáy tâm hồn người đối diện. Nhưng tất cả những nét tinh tường sắc sảo đó giờ đ
Back to posts