XtGem Forum catalog

Wap đa chinh thuc chuyen sang dia chi moi

CLICK VÀO ĐÂY - TRANG CHỦ Www.HaiPhongWap.Net

Haiphongwap.net

Wap tai game cho dien thoai, Tai Hack avatar, Hack nam quoc son ha, hack khu vuon dia dang mien phi

HAIPHONGWAP.NET

Haiphongwap.net - Wap tai game cho mobile
Haiphongwap.net - Wap tai game cho mobile, Tai Hack avatar, Hack nqsh, kvdd mien phi - Haiphongwap.net

- Game Ai Là Triệu Phú bản 2012 online tiếng Việt
- Game Half life CS 1.3.6 cho mobile
- Phần mềm diệt virus cho điện thoại
trang wap doc truyen sex hay, tai mien phi game anh sex, phim sex cho dien thoai
Havanphu.Wap.Sh
Home | Clip 3x | Game
Tải Ola ken, phần mềm chát sex Ola kul cho điện thoại
Game Đột Kích dành cho mobile giống trên PC
Game Angrybirds bản java cho s40
Hack Avatar 193 auto mod full ghép x2 max speed
PM Chụp ảnh xuyên quần áo (Hot)
Kho game Việt hóa, Online chọn lọc cực hay
Opera độ nén file cực cao, tiết kiệm GPRS tối đa
Game Boom giống Vinagame trên PC
Avatar hack tự động làm nông trại
Tải game cho điện thoại miễn phí

Trang Chủ
Truyện ma có thật

Khi nào mà các đại dương vẫn còn những lợi gân nối liền các phần khác nhau của Đế quốc Anh thì chúng ta vẫn sẽ không tránh khỏi những chuyện hoang đường. Vì linh hồn người ta tự để cho bị khuấy động bởi nước, cũng giống hệt như nước phải vâng theo mặt trăng và khi những con đường lớn của một đế quốc bị bao quanh bởi nỗi hỉêm nguy muôn thuở, cũng phong phú về những cảnh trí và âm thanh kỳ lạ, người ta phải có một tinh thần khá thâm hậu để giữ được thản nhiên trước những điều ác hại của chúng. Hiện nay nước Anh đang vươn ra rất xa bên ngoài chính quốc, khi mà ba ngàn dặm hải phận của mỗi mạn duyên hải làm thành cương giới mà nó đã đoạt được bởi cái búa, cái khuôn dệt và cái cuốc nhọn hơn là bởi những nghệ thuật của chiến tranh. Quả thật lịch sử đã đoán chắc với chúng ta rằng không một ông vua nào, không một đạo quân nào có thể cản đường của một người chỉ có hai đồng tiền trong két sắt nhưng biết rằng ở nơi nào y sẽ có thể biến hai đồng tiền thành ba đồng, và để hết trí thông minh vào việc đi tới nơi đã định. Và vì cương giới đã mở xa ra, trí thông minh của Anh Quốc cũng được nới rộng và tràn lan ra một cách đầy đủ trên khắp thế giới để cho tất cả mọi người thấy rằng những con đường của hải đảo có tính cách châu lục, giống hệt như những con đường của châu lục đều có tính cách hải đảo. 
Nhưng để tới được chỗ đó, người ta đã phải trả một cái giá, và cái giá này cứ tiếp tục tốn kém hơn. Cũng giống như con quái vật thời xưa phải nhận được dưới dạng cống phẩm hàng năm một người trai trẻ, với đế quốc của chúng ta cũng thế, hàng ngày chúng ta phải hy sinh cái tinh hoa của thế hệ thanh niên của chúng ta. Guồng máy thì bao la và dũng mãnh nhưng nhiên liệu duy nhất làm cho nó vận hành là sinh mạng của dân Anh. Đó là lý do tại sao khi ở trong những giáo đường cổ kính màu xám chúng ta nhìn thấy những danh tính xa lạ: những danh tính mà cả những người xây các bức tường này cũng không biết, vì chính ở Peshawar, ở Umbellah, ở Korti, ở Fort Pearson mà những chàng trai trẻ chết, mà chỉ để lại phía sau họ truyền thuyết và một tấm biển. Nếu bên trên mỗi cái xác người Anh có một đài kỷ niệm được dựng lwn thì người ta sẽ không cần vạch ra cương giới, vì một sợi dây thừng của những ngôi mộ sẽ chỉ rõ làn sóng của dân Anh và Celtes đã vờ tới nơi nào. 
Cả điều đó nữa, đồng thời với những khối nước nối liền chúng ta với thế giới, đã đóng góp vào những chuyện hoang đường mà chúng ta thấm nhuần. Khi mà bao nhiêu người đàn ông và đàn bà đã có ở phía bên kia đại dương những người mà họ yêu quý và những người này đang tiến lên dưới làn đạn của dân sơn cước hoặc trong những đầm lầy của bệnh sốt rét rừng, thì lúc đó tâm hồn đi vào sự giao cảm với tâm hồn, và những truyện ly kỳ nẩy sinh, những mộng mị, những sự linh cảm, những ảo tưởng trong đó một bà mẹ trông thấy con trai bà đang chết và bà ngất đi trong cơn tuyệt vọng, ngay cả trước khi cái tang của anh ta được loan báo cho bà. Mới gần đây khoa học đã chiếu cố tới vấn đề này và đã ban cho nó một cái nhãn hiệu, nhưng chúng ta đã biêt gì hơn nếu không phải là việc một linh hồn bị hành hạ và tới bước cũng đã có thể phóng qua mặt đất, vào một khoảng cách mươi lăm ngàn cây số, cái hình ảnh của tình cảnh đau buồn của y tới tận tâm trí của người thân cận nhất của y? Tôi không hề phủ nhận cái quyền năng đó, nhưng tôi nghĩ rằng cần phải khôn ngoan trong những vấn đề như vậy, vì ít nhất đã có một lần tôi biết rằng những điều trong khuôn khổ các định luật tự nhiên có thể hoàn toàn nằm ngoài những vấn đề này. 
John Vansittart là hội viên thứ nhì của công ty Hudson et Vansittal, công ty xuất khẩu cà phê ở Ceylan ( Tích Lan). Ông vốn là người gốc Hà Lan, nhưng 100% Ăng-Lê trong lòng các phong độ. Đã nhiều năm tôi làm đại diện cho ông ở Luân Đôn. Khi ông tới Anh quốc để nghỉ ngơi ba tháng, ông nói với tôi để có những sự giới thiệu cho phép ông làm quen với đời sống ở thị thành và ở thôn quê. Ông đã rời khỏi các văn phòng của tôi với bảy bức thư trong túi áo. Trong một vài tuân, những bức thư ngắn từ nhiều nơi khác nhau gửi tới báo tin cho tôi biết là ông đã lấy được cảm tình của các bạn tôi. Rồi tôi được tin là ông đã đính hôn vơi Emily Lawson, thuộc ngành thứ của gia đình nhà Hereford Lawson, và gần như ngay sau đó họ đã thành hôn: sự tán tỉnh của một du khách chỉ có thể chóng vánh thôi, và cái ngay ông phải xuống tàu của công ty, một cái tàu buồn một ngàn tấn: đó sẽ là chuyến đi chơi tuần trăng mật của họ. 
Thời đó là thời cực kỳ thuận lợi cho các nhà trồng cà phê ở Ceylan, họ đã chưa từng biết cái mùa khủng khiếp mà chỉ trong vài tháng thôi, nhưng đã làm lụi bại tất cả một cộgn đồng này nhờ ở sự dũng cẩm và kiên trì, sẽ lại dành được một thắng lợi thứ hai: quả thực những cánh đồng trà ở Tích Lan là một đại công trình của lòng dũng cảm của dân Anh, giống hệt như con sư tử ở Waterloo. Nhưng trong năm 1872 chưa có một đám mây nào đe doạ ở chân trời. Những hy vọng của các nhà trồng tỉa thật tràn trề, Vansittart trở lại Luân Đôn cùng với cô vợ trẻ đẹp của ông. Ông giới thiệu cô với tôi, chúng tôi cùng ăn bữa tối với nhau, và cuối cùng thì ông đồng ý rằng, vì các công việc củng đòi hỏi sự có mặt của tôi ở Tích Lan, tôi sẽ là bạn đồng hành của họ trên tau Eastern Star, mà sự nhổ neo rời bến đã được định trước vào ngay thứ hai sắp tới. 
Tôi gặp lại ông vào buổi tối ngày chủ nhật. Ông đi vào trong nhà tôi với một vẻ băn khoăng và bực bội. Khi tôi bắt tay ông, tôi nhận thấy bàn tay ông nóng và khô. 
- Ông Atkinson ạ, ông nói với tôi, tôi muốn ông bảo người nhà pha cho tôi một chút nước chanh và nước lạnh. Nói theo nghĩa đen, tôi đang chết khát đây, và tôi càng uống bao nhiêu thì tôi càng muốn uống nữa. 
Tôi bấm chuông và gọi lấy một bình nước và những cái cốc. 
- Ông đang bị sốt nóng lạnh, toi nói với ông, ông có vẻ đang khó ở đó. 
- Không, tôi không cảm thấy khoẻ mạnh lắm. Tôi bị đau phong thấp ở lưng, và tôi ăn không ngon. Chính cài thành phố Luân Đôn chết tiệt này làm tôi nghẹt thở. Tôi không quen hít thở cái không khí mà bốn triệu buồng phổi cùng khuấy trộn lên cùng một lúc. 
Ông vung vẩy hai bàn tay co quắp trước mặt ông: thật sự ông đã cho người ta một ấn tượng của sự ngột ngạt. 
- Một khi ông ở trên mặt biển, ông sẽ cảm thấy khoẻ khoắn ngay. 
- Đúng. Về điều đó thì tôi đồng ý với ông, Đó là việc cần thiết của tôi. Tôi không cần tới một vị y sĩ khác. Nếu ngày mai tôi không xuống tàu thì tôi sẽ phát ốm..... 
Ông uống một hơi hết cốc nước chanh và ông xoa chỗ sống lưng bằng hai bàn tay ông. 
- Người ta nói rằng điều đó sẽ tốt cho tôi, ông nói tiếp trong khi nhìn tôi với một con mắt rầu rỉ. Bây giờ tôi cần có sự giúp đỡ của ông, ông Atkinson ạ, vì tôi đang ở trong một hoàn cảnh tế nhị. 
- Hoàn cảnh thế nào? 
- Đây này, bà mẹ vợ tôi bị ngã bệnh và bà ấy đã đánh điện gọi vợ tôi tới bên giường bệnh của bà ấy. Tôi đã không thể đi theo vợ tôi (ông biết rõ hơn ai hết là tôi đã bị cầm chân lại ở đây ) và vợ tôi đành phải đi một mình. Bây giờ tôi lại vừa nhận được một bức điện khác nói là ngày mai vợ tôi không thể tới được, nhưng nàng sẽ bắt kịp con tàu ở Falmouth vào ngày thứ tư. Ông biết đó, chúng tôi sẽ đạu lại ở đó: nhưng Atkinson ạ, tôi thấy thật là khó cho người ta đòi hỏi một người phải tin vào sự huyền bí, và người ta sẽ nguyền rủa, nếu y không thể tin vào điều đó, người ta sẽ nguyền rủa y, ông hãy hiểu tôi đi! 
Ông cúi xuống phía trước và khịt mũi làm như thể ông sắp khóc oà lên. 
Lúc đó tôi nghĩ tới việc người ta đã nói rất nhiều với tôi về những tập tục ở hải đảo và về cách thức người ta uống rượu không pha ở đó. Chắc hẳn rượu đã là nguyên nhân của những lời nói khó hiểu này và của những bàn tay đang lên cơn sốt này! Tôi cảm thấy một sự lo sợ mạnh mẽ khi trông thấy một người trai trẻ cao quý như vậy nằm trong tay một con quỉ ghê tởm nhất trong số tất cả những con gái. 
- Ông phải đi nằm nghỉ! Tôi nói một cách nghiêm nghị. 
Ông dụi mắt như thể ông tìm cách tự làm cho mình tỉnh lại, và ông nhìn tôi với vẻ kinh ngạc. 
- Tôi sẽ đi tới đó, ông nói với tôi một cách bình thản, lúc nãy tôi cảm thấy hơi choáng váng, nhưng bây giờ tôi đã hồi phục rôi. Này, tôi đang nói về về việc gì thế? À, dĩ nhiên là về vợ tôi rồi! Nàng sẽ xuống tàu ở Falmouth. Tôi tin rằng sức khoẻ của tôi tuỳ thuộc vào sự đi đường biển. Tôi cần có chút ít không khí trong lành trong phổi tôi để tôi có thể hoàn toàn bình phục. Do đó tôi xin ông hãy làm cho một việc với tư cách bạn bè, ông sẽ đí tới Falmuoth bằng xe lửa, phòng trường hợp mà chúng tôi tới trẻ, và lúc đó ông sẽ trông nom cho vợ tôi. Ông hãy tới khách sạn Royal; tôi sẽ đánh điện cho nàng là ông trú chân ở đó. Em gái của nàng sẽ đi theo nàng tới tận đó, như thế là mọi việc sẽ tốt đẹp. 
- Rất vui lòng, tôi trả lời. Thật sự tôi không đòi hỏi gì hơn là được đi tới Falmuoth bằng xe lửa, vì từ đây tới Colombo chúng ta sẽ có nhiều thời gian thưởng thức biển cả. Tôi cũng nghĩ rằng ông có một nhu vầu khẩn thiết về sự thay đổi không khí. Nếu ở địa vị ông tôi sẽ đi nằm nghỉ ngay tức thì. 
- Phải. Đêm hôm nay tôi sẽ ngủ trên tàu. Ông thấy đó một thứ sương mù còn lởn vởn trước mắt ông. 
-....Mấy đêm nay tôi không ngủ được nhiều, tôi đã gặp mâu thuẫn với các nhà thần học....nghĩa là..... 
Trong một sự cố gắng tuyệt vọng, ông kêu lên: 
-....Bởi những sự hoài nghi có tính cách thần học...Xì! Tôi tự hỏi tại sao đấng tối cao toàn năng lại tạo ra chúng ta, tại sao. Ngài lại làm cho chúng ta ngu độn và gài những sự đau đớn lặt vặt vào sống lưng của chúng ta. Có lẽ là tối nay tôi sẽ khá hơn! 
Ông đứng dậy và bám thấy cái lưng ghế của ông. 
- Ông Vansittart! Xin ông hãy nghe tôi! Tôi nói với sự nghiêm trọng. Tối nay tôi sẽ mời ông ở đây với tôi, ông không ở trong tình trạng để đi ra ngoài được. Ông không đi ngay ngắn được. Ông đã uống những thứ pha trộn của rượu... 
- Rượu hả? 
Ông nhìn thằng vào mắt tôi với một cái nhìn ngớ ngẩn. 
- Thường nhật thì ông chịu đựng khá hơn khi uống rượu mà. 
- Ông Ankinson này, tôi thề với ông là đã từ hai ngày nay tôi không uống một cốc rượu, tôi không biết là tôi đã uống cái gì. Tôi giả thiết rằng ông nghĩ đó là hiệu ứng của rượu.... 
Ông nắm lấy bàn tay tôi và đặt nó lên trán ông. 
- Lạy chúa tôi! Tôi kêu phải lên. 
Ông có làn da mỏng như một dải nhung, dưới lớp da tôi cảm thấy như một lớp chi chít những miêng chỉ lụn vụn. 
- Ông chớ lo sợ, ông nói trong lúc cười mỉm. Tôi đã mắc bệnh lở mụn nước rất tệ. 
- Nhưng chuyện đó không dính líu gì tới bệnh lở mụn nước mà ! 
- Không, đó là Luân Đôn. Đó là việc thở hít cái không khí tệ hại đó. Ngày mai tôi sẽ mạnh khoẻ hơn nhiều. Trên tàu có một y sĩ, thế là tôi sẽ được săn sóc chu đáo. Bây giờ tôi sẽ đi đây. 
- Không, tôi nói với ông trong khi bắt ông phải ngồi xuống. Việc đó sẽ là đưa sự đùa cợt đi quá xa đấy. Ông sẽ không nhúc nhích khỏi nơi này trước khi gặp một vị y sĩ. Hãy ở yên chỗ ông đang ngồi. 
Tôi cầm lấy cái mũ và vội vã đi tới nhà một vị y sĩ ở ngay gần nhà tôi. Tôi đưa ông ấy về nhà tôi ngay lập tức, nhưng phòng khách của tôi trống không và Vansittart đã đi khỏi. Tôi bấm chuông, anh đầy tớ báo với tôi rằng vị quý khách đã sai gọi một cỗ xe. Ông ấy bảo người đánh xe đưa ông ấy đến bến tàu. 
- Vị quý khách có vẻ ốm yếu không? Tôi hỏi. 
- Ốm yếu à? Anh đầy tớ mỉm cười trả lời. Thưa ông không, ông ấy hát ầm ĩ! 
Sự bào tin này đã không làm tôi yên tâm chút nào, nhưng tôi nghĩ rằng ông đi tới tàu Eastem Star, và có một y sĩ ở trên tàu, tôi không thể làm được gì nữa cho ông. Tuy nhiên, khi tôi nhớ tới sự khác nước của ông, nhớ tới hai bầnty nóng bỏng của ông, con mắt nặng chĩu của ông, những lời nói vô ý nghĩa của ông, và cuối cùng là cái trán lở lói bệnh cùi của ông, thì tôi đã mang theo lên giường nằm của tôi một ký ức khó chịu về người khách của tôi và sự tới thăm của ông ấy. 
Sáng hôm sau, vào lúc mười một giờ, tôi đi tới bến tàu, nhưng tàu Eastern Star đã bắt đầu chạy xuôi dòng sông và đã fần tới Gravesend. Tôi đi với Gravesend bằng xe lửa, nhưng khi tôi tới nơi thì chỉ còn trông thấy các cột buồm của nó ở một khoảng cách khá xa, được mở đường phía trước bởi một lùm khói của một cái tàu kéo. Thế là tôi không có tin tức nào của ông bạn tôi nữa trước khi tới Falmuoth. Khi tôi trở về văn phòng của tôi, một bức điện tín đã đợi tôi. Bà Vansittart đã tới Falmuoth; buổi tối ngày hôm sau, chúng tôi gặp nhau ở khách sạn Royal, tại đó chúng tôi phải đợi tàu Eastern Star. Mười ngày đã trôi qua, chúng tôi không nhận được tin tức gì của con tàu. 
Tôi sẽ không dễ dàng quên được mười ngày đó! Khi tàu Eastern Star rời khoti sông Tamise, một cơn bão lớn phát khởi; nó thổi trong gần cả một tuần lễ không ngừng nghĩ chút nào. Trên bờ biển miền nam, chưa bao giờ người ta thấy một trận bảo dài như thế và cuồng nộ như thế. Từ các cửa sổ khách sạn của chúng tôi, mặt biển hình như bị bao trùm trong sương mù. Gió đè một cách quá nặng nề lên những đợt sóng khiến cho mặt biển không thể vùng lên được: ngọn của từng đợt sóng đã bị ngắt đi ngay tức thì. Những đám mây, gió, mặt biển đều ùn ùn kéo về hướng tây. Ở giữa những thế lực hung hăng này, tôi chờ đợi hết ngày này qua ngày khác với sự bầu bạn duy nhất của một người đàn bà xanh xao và trầm lặng, mà cặp mắt phản ảnh sự kinh hoàng; từ sáng tới chiều, nàng cứ đứng dán mắt vào cửa kính, đăm đăm nhìn vào tấm xịt qua đó một con tàu có thể hiện ra. Nàng không nói gì cả, nhưng nét mặt nàng là một khúc bi ca dài dặc. 
Sang tới ngày thứ năm tôi hỏi ý kiến một thủy thủ già. Ý tôi muốn được ngồi một mình với ông ấy, nhưng nàng đã trông thấy tôi mở lời với ông ấy, và nàng tới ngay tức thì, miệng hé mở và đôi mắt khẩn cầu. 
- Khởi hành từ Luân Đôn đã bảy ngày rồi à? Ông ấy nói. Vậy là năm ngày trong giông bão. Này, biển Manche đã bị quét sạch bởi cơn gió này! Có ba giả thuyết, trận bão có thể bắt nó phải tìm nơi trú ẩn trong một hải cảng của Pháp. Điều này có thể là đúng. 
- Không phải thế đâu! Ông ấy biết rằng chúng tôi đang ở đây. Lẽ ra ông ấy phải đánh điện cho chúng tôi. 
- À phải! Vậy thì có thể là nó đã chạy ra khơiđể tránh bão, nếu đúng vậy thì lúc này chắc nó không ở xa Madere. Thưa bà, điều đó hoàn toàn có thể xảy ra; bà có thể tin lời tôi nói ! 
- Và giả thuyết thứ ba? 
- Tôi có nói với bà về một giả thuyết thứ ba à? Không, tôi nghĩ chỉ có hai thôi. Tôi không tin là tôi đã nói tới một giả thuyết thứ ba. Con tàu của bà đang ở một nơi nào đó ở giữa Đại Tây Dương, và chả mấy chốc bà sẽ có tin tức của nó, vì thời tiết săp thay đổi. Thưa bà, bà chớ lo lắng. Hãy đợi tới ngày mai, ngay từ buổi sáng bà sẽ có một bầu trời xanh, đẹp. 
Người thủy thủ già đã tiên đoán đúng: ngày hôm sau trời quang đãng ngoại trừ một đám mây thấp bay ở phía tây, và đó là mảnh cuối cùng của cơn cuồng nộ của trận bão tố. Dù trời đã quang đãng chúng tôi cũng vẫn không có một tin tức nào về chiếc tàu thủy. Ba ngày bực bội, lo âu nữa đã trôi qua, rồi một thủy thủ tới trình diện ở khách sạn với một bức thư, tôi thốt lên một tiếng kêu vui mừng. Bức thư tới từ vị thuyền trưởng của tàu Eastern Star. Khi đọc qua mấy dòng đầu tiên, tôi đã muốn giấu nhẹm là thư đi, nhưng nàng đã giật lấy nó từ tay tôi. 
- Tôi đã đọc đoạn đầu, nàng nói với một giọng bình thản. Vậy thì tôi có thể đọc chỗ tiếp theo. 
Lá thư viết như sau: 
” Kính thư ông, ông Vansittart đang ở trên tàu với bệnh đậu mùa, và chúng tôi đã bị đẩy ra quá xa mũi đất của chúng ta nên chúng tôi không biết phải làm sao: ông ấy đã phát cuồng và ông ấy không còn khả năng để ra lệnh cho chúng tôi. Theo những sự tính toán phỏng chừng của tôi thì chúng tôi chỉ còn cách Fanchal chừng bốn trăm hai mươi cây số thôi. Tôi cũng giả thiết là nên đi tới đó, đưa ông Vansittart vào bệnh viện, và đợi ông tới ở trong vịnh. Người ta nói với tôi là trong vài ngày nữa một tàu buồm sẽ từ Falmuoth đi tới Fanchal. Lá thư này sẽ được mang tới ông bằng sự môi giới của thuyền nhỏ Marian ở Falmuoth, phải trả viên thuyền trưởng của nó năm bảng. Kính chào ông. Jno Hines. ” 
Nàng thật là tuyệt diệu, cô thiếu nữ vừa mới rời khỏi đại học này! Cũng trầm tĩnh và cương nghị như một bậc nam nhi vậy. Nàng không nói gì cả. Nàng mím chặt môi và đội mũ lên đầu. 
- Cô đi ra ngoài à? Tôi hỏi. 
- Vâng. 
- Tôi có thể giúp gì cho cô không? 
- Không, tôi đến nhà vị y sĩ. 
- Sao? 
- Phải. Để biết cách người ta điều trị bệnh đậu mùa. 
Nàng loay hoay bận rộn súôt cả buổi tối. Sáng ngày hôm sau, chúng tôi xuống tàu đi Madere, trên chiếc tàu Róe ò Shảon. Gió biển thổi mười nút một giờ. Trong năm ngày chúng tôi chạy với tốc độ đều đặn, và chúng tôi đã tới nơi không xa hải đảo. Sang ngày thứ sáu gió nổi lên đột ngột, chúng tôi lâm vào tình trạng không nhúc nhích được như đi trên dầu nhớt. 
Lúc mười giờ tối, Emily Vansittart và tôi cùng đứng tựa vào bao lớn bên phải của mạn cuối tàu; mặt trăng sáng rực đằng sau chúng tôi và chiếu xuống chân chúng tôi bóng đen của con tàu và bóng hai cái đầu của chúng tôi trên mặt nước lóng lánh như tấm gương. Từ chỗ bóng tối một con đường của ánh trăng trải dài ta và vừa đi xa, vừa tan rộng cho mãi tới chân trời hiu quạnh. Chúng tôi nói chuyện trong khi cúi thấp đầu xuống, chúng tôi nói dông dài về sự yên tĩnh, về cơ may của một cơn gió thuận lợi, về trạng thái của bầu trời, thì bỗng nhiên có một tiếng bõm trên mặt nước, như thể một con cá hồi vừa nhảy lên, và kìa, dưới ánh sáng trăng vằng vặc John Vansittart nhô lên từ dưới mặt biển và ngẩng đầu lên về phía chúng tôi. 
Tôi chưa bao giờ thấy một vật gì rõ rệt hơn thế. Ánh trăng soi sáng ông ấy rõ mồn một, ông ấy ở cách xa chúng tôi tầm độ ba tầm chèo. Ông ấy có bộ mặt phồng lên lớn hơn là lần gặp mặt cuối cùng của chúng tôi, da ông có nhiều chỗ lốm đốm những vẫy đen; mặt và miệng ông mở lớn ra như thể một người vủa gặp một sự kinh ngạc lớn lao. Từ hai vai của ông, một chất trắng đục chảy xuống thành những dãi dài; một bàn tay của ông giơ lên gần tai, bàn tay kia thì gặp lại để ngang ngực ông. Tôi trông thấy ông vọt lên khỏi mặt nước, và trên mặt phẳng yên tĩnh của đại dương, những gợn sóng vẽ thành các vòng tròn cho mãi tới hông tàu. Rồi ông lại chìm xuống, và tôi nghe thấy một tiếng rập gẫy, một tiếng xé rách, như thể trong một đêm băng giá một bó củi khô nổ lép bép trong đống lửa bập bùng. Khi tôi nhìn lại tôi không còn trông thấy một chút dấu vết nào của ông đã xuất hiện. Tôi không thể nói là tôi đã đứng ở đó bao lâu cúi khom người trên các đầu ngón chân, một tay vịn chặt lấy cái lan can và tay kia đỡ lấy người đàn bà bất tỉnh. Tôi đã là một kẻ trái ngược hẳn với người hay nhạy cảm, lần này thì ít nhất tôi đạp chân lên boong tàu để biết chắc tôi vẫn còn làm chủ được các cảm giác của chính tôi, và đây không phải là sự sáng tạo điên khùng của một bộ óc hỗn loạn. Emily Vansittart run lẩy bẩy, mở mắt ra, nàng đứng dậy, hai tay tì vào cái lan can, nhìn ra mặt biển long lanh dưới ánh trăng; mặt nàng đã già đi mười năm trong một đêm hè. 
- Ông có nhìn thấy ông ấy không? Nàng thì thào nói. 
- Tôi đã nhìn thấy một vật gì. 
- Đó là ông ấy! Đó là John! Ông ấy đã chết!.... 
Tôi ấp úng nói một vài lời có tính cách hoài nghi. 
-...Chắc chắn là ông ấy vừa mới chết, nàng nói nhỏ. Ở bệnh viện Madère. Tôi đã đọc qua những truyện vào loại đó. Các yd nghĩ của ông ấy đều nghĩ tới tôi. Thị quan của ông ấy đã tới với tôi. Ôi John, người yêu quý của tôi, người yêu quý đã mất đi mãi mãi của tôi !
Nàng oà lên khóc nức nở: tôi đưa nàng về phòng của nàng và để nàng ở đó với nỗi lo buồn của nàng. Một cơn gió nhỏ bắt đầu thổi trong lúc ban đêm, và buổi tối hôm sau chúng tôi bỏ neo trong vịnh Fanchal. Tàu Eastern Star đang đậu gần đó, lá cờ kiểm dịch được treo cao trên cột buồm lớn và cờ hiệu của nó để rũ xuống. 
- Ông trông kìa! Bà Vansittart nói với tôi. 
Cặp mắt nàng khô ráo, nàng biết rằng không một giọt lệ nào trả lại được người chồng cho nàng. Trong lúc ban đêm chúng tôi nhận được giấy phép cho lên tàu Eastern Star. Viên thuyền trưởng, ông Hines, đợi chúng tôi trên boong, sẹ lo buồn và bối rối đã hằn lên trên bộ mặt da đồng của ông, và ông tìm những từ để loan báo hung tin: nàng ngắt lời ông. 
- Tôi biết rằng chồng tôi đã chết, nàng nói, ông ấy đã chết tối hôm qua, vào lúc mười giờ, ở bệnh viện Madère, có phải vậy không? 
Người thủy thủ nhìn nàng, sững sờ. 
- Khồn, thưa bà. Ông ấy chết tám ngày rồi, ở trên biển và chúng tôi đã buột lòng phải thủy táng ông ấy ở đó, vì chúng tôi thấy mình đang ở một khu vực yên tĩnh và chúng tôi đã không biết khi nào thì chúng tôi sẽ tới bờ. 
Đó là những sự kiện chính yếu liên quan tới cái chết của John Vansittart, cũng như về sự xuất hiện của ông ấy tại một nơi nào đó vào khoảng độ 35 bắc vĩ - tuyến và độ 15 tây kính tuyến. Một hồn mà hiện hình rõ rệt hơn thật ít khi xảy ra, do đó nó đã là đề tài của nhiều cuộc tranh luận, của nhiều bài viết. Nó đã được xác nhận bởi giới bác học và nó đã làm dầy thêm tập hồ sơ mới được mở ra gần đây về sự thần giao cách cảm. Về phần tôi, tôi chủ trương là sự thần giao cách cảm không có gì để nghi ngờ, nhưng tôi muốn rút trường hợp này ra khỏi tập hồ sơ và tôi muốn nói rằng chúng tôi đã không trông thấy sự xuất hiện của hồn ma John Vansittart, mà đúng là John Vansittart bằng xương bằng thịt, vọt lên từ đáy sâu của Đại Tây Dương dưới ánh trăng. Tôi luôn luôn tin rằng một sự ngẫu nhiên phi thường (Một trong các sự ngẫu nhiên rất ít có khả năng xảy ra này, tuy nhiên lại vẫn thường xảy ra ) đã làm cho chúng tôi đứng bất động bên trên chính ngay cái chỗ mà người đàn ông đó đã bị chôn vùi trên biển một tuần lễ trước. Về phần còn lại, vị y sĩ đã nói với tôi là quả tạ bằng chì không được cột chặt, và bảy ngày đã mang tới cho cái xác chết vài sự thay đổi nào đó có thể làm cho nó nổi lên mặt nước. Quả tạ đã làm nó chìm sâu xuống đấy biển. Nếu quả tạ tách rời ra xác chết có thể lại chồi lên mặt nước với sự đột ngột mà chúng tôi đã chứng kiến. Đó là lời giải thích của vị y sĩ. Tới chỗ muốn biết rõ ràng hơn nữa, tôi coi đó là phận sự của tôi, và nếu nhắc lại với bạn về cái tiếng động khô khan của sự rập gẫy, của sự xé rách, cũng như sự xao động trong nước biển. Những con cá mập kiếm ăn trên mặt nước, và chúng đông lúc nhúc trong miền này.

- Trang Chủ | Clip Sexy | Game

Lưỡi dao bị nguyền rủa

Cái chết đi cùng với họ, nhưng chỉ một người duy nhất trong thủy thủ đoàn biết điều đó. Cũng chính vì nó mà hắn ta đã bước chân lên con tàu này, rình mò để chờ cơ hội.
Gã đâu thèm quan tâm đến tất cả những vàng bạc, những bức tranh quý hiếm, những đồ nữ trang, những thứ lụa tuyệt đẹp ngày nào đã trang điểm cho hằng sa số những người đàn bà Hồi giáo. Gã chỉ muốn với tay tới một vật duy nhất!
Người đàn ông đó tự xưng là Malraux, nhưng đó không phải là tên thật của gã. Tên thật này không một ai trên tàu được biết, và gã cũng sẽ không bao giờ nói cho nghe. Gã phải giữ mọi việc trong vòng bí mật tuyệt đối. Mà khi mọi việc đã qua đi, người ta sẽ lại càng không dám thốt lên lời nào.
Hiện gã đàn ông vẫn còn nằm trên võng, trong căn phòng bên dưới boong tàu. Xung quanh gã là một bầu không khí ngột ngạt, nồng nặc, đặc quánh đến cả những con ruồi béo phị cũng ngừng bay, tìm chỗ nghỉ. Chẳng ai biết chúng xuất phát từ đâu, nhưng loài côn trùng quỷ quyệt đã tìm được đường đi riêng và bây giờ đang hiện diện nơi đây như muôn vàn đốm nhỏ óng ánh.
Malraux nghĩ tới việc con tàu này tới một lúc nào đó sẽ sang với Tân Thế Giới, để toàn bộ của cải châu báu của dòng đạo Templer được đưa về nơi an toàn. Khác với tại châu Âu, dòng đạo Templer không bị những dòng đạo khác ở Mỹ truy đuổi và tàn sát. Ở lục địa già, cứ mỗi khi ló mặt ra là thành viên của nhóm Templer đều biết điều duy nhất đang chờ họ là tra tấn, nhà giam và cái chết.
Gã đâu có muốn đi cùng con tàu này tới tận Tân Thế Giới. Gã đã lên thuyền tại Genua và họ đã vui vẻ đón nhận gã, bởi đa số thủy thủ đều e ngại cảnh cô đơn trên con đường dài vượt đại dương. Những con đường phủ đầy những cơn bão khủng khiếp, cái khát, cái nóng thiêu đốt dưới mặt trời đổ lửa, bệnh tật và cái chết. Chỉ những người đàn ông đặc biệt dũng cảm hoặc những người đàn ông chẳng còn gì để mất mới tham gia những chuyến đi nguy hiểm như thế này. Bản thân Malraux không biết mình thuộc nhóm người nào. Vì thế mà gã đàn ông đã tự tưởng tượng ra một nhóm người thứ ba và xếp hắn vào đó.
Đoạn đường từ Genua tới trạm giữa Marseile kéo dài vài ngày, bởi đầu tiên họ phải đi ngược chiều gió thổi từ hướng Tây hoặc Tây nam. Trong khoảng thời gian này, nhất định gã phải đạt được mục đích của mình.
Họ đã đi dọc bờ biển này đến hai ngày rồi, nhưng không bao giờ vào gần bờ tới mức người trên bờ có thể nhìn thấy. Lang thang trong vùng nước này chẳng phải là không nguy hiểm, đặc biệt đối với một con tàu có in hình cây thập tự Templer trên cánh buồm.
Lẽ ra phải quét vôi lên trên cây thập tự đó, nhưng lòng tự hào của những người trên tàu không cho phép. Thay vào đó, họ dự định vào vịnh Marseile trong đêm và một số người trong họ sẽ lên bờ ngay trong đêm đó để né tránh bàn tay truy lùng của Giáo hoàng và các vị giám mục Thiên Chúa giáo cũng như của cảnh sát ngoài đời. Tất cả những nhóm người đó đều rất muốn chiếm kho báu của dòng đạo Templer, bởi tất cả đều tham lam và đều đang sắp phá sản.
Chuyện đó chẳng khiến gã đàn ông mảy may quan tâm tới. Gã chỉ biết đến một mục tiêu duy nhất. Gã cũng sẻ biến mất tại Marseile, sẽ trà trộn vào đám người trên bến cảng để rồi chìm xuống không để lại một vết tích, như một con chuột lẫn vào trong hang sâu tăm tối.
Mặt biển tương đối yên lặng. Gã vừa thực hiện xong ca gác của mình. Ca gác tới sẽ chỉ bắt đầu khi màn đêm buông xuống nhưng sẽ có lượng người canh chừng gấp đôi. Thế nên dù có màn bao bọc của bóng đêm, đi tìm vật thể mà gã mong muốn vào thời điểm đó sẽ nguy hiểm hơn. Gã quyết định thực hiện kế hoạch dưới ánh sáng ban ngày.
Rất nhiều thủy thủ trên tàu không biết những gì đang được chứa trong những hòm rương trông rất đỗi bình thường đó. Người ta nói với họ rằng đó là thực phẩm và họ tin ngay lập tức.
Nhưng Malraux thì không.
Tỉnh như sáo, gã nằm thức trên võng trong khi những thủy thủ khác đều ngủ say. Gã nghe tiếng họ ngáy và cảm thấy ghê tởm. Đáng tiếc, gã phải chờ. Gã biết có một khoảng thời gian kể cả những người lính đang canh cũng sẽ giảm tập trung và ngủ nhiều hơn là gác.
Con tàu khẽ chòng chành. Những chuyển động truyền vào võng. Tiếng gỗ cọt kẹt, con tàu đang rên lên, cứ như thế nó đang khổ sở khủng khiếp vì chuyến đi này. Nếu cơn bão nổi lên thì không biết nó còn rên siết tới mức nào nữa?
Malraux nhìn trân trân lên trần phòng, làm như trên đó có treo một tấm gương cho hắn soi. Quả thật, hắn đang nghĩ tới ngoại hình của mình. Những ai gặp hắn thường tỏ vẻ coi thường khi thấy hắn quá nhỏ bé. Họ đâu có để ý đến cấu tạo cơ thể hắn. Gã có rất nhiều cơ bắp, rất khỏe mạnh và trong một vài tháng trời sống tại xứ Osamanen, gã đã học được nghệ thuật đấu vật. Một khi đã tóm được ai vào trong vòng tay, hắn có thể giữ nguyên người này ở tư thế đó thật lâu cho tới khi anh ta chết vì ngộp thở. Hắn đã thử nghiệm điều đó rất nhiều lần, rồi bình tĩnh bỏ đi, để lại những thân hình mất hết sức sống.
Đó là một thời gian tràn đầy bạo lực, chỉ có những kẻ nhanh hơn và mạnh hơn mới sống sót.
Những người khác vẫn đang ngủ.
Họ ú ớ, họ ngáy, một số người nói lảm nhảm trong mơ. Những người khác lại rên rỉ, một số vật vã và một số làm tất cả những điều đó. Cái mùi tỏa ra từ người họ thật ghê tởm. Nó bốc lên mùi mồ hôi, mùi đàn ông, mùi ghét bẩn và Malraux cũng biết trên con tàu này có quá đủ mọi loại côn trùng để truyền bệnh từ người này sang người khác.
Hắn chờ thêm một vài phút nữa, rồi gạt cái võng sang bên. Việc đứng dậy thật ra không khó, nhưng những người thủy thủ nằm quá sát nhau nên nếu không chú ý, hắm sẽ đạp phải họ khi nhảy từ trên võng xuống.
Hắn cẩn thận từng bước một. Linh cảm cho hắn biết bây giờ là lúc hắn có thể ra tay. Không chờ đợi nữa, bởi đột ngột hắn có cảm giác như con tàu này là con tàu bị nguyền rủa. Nếu hắn không lầm, thì hắn thậm chí vừa thoáng nhìn thấy một con chuột béo phì – cái thứ rác rưởi báo trước thảm họa.
Những kẻ thù đã biết người thuộc dòng đạo Templer muốn bỏ trốn và đã tụ tập những con tàu của mình lại. Cũng đã không ít người bỏ thân nơi đáy đại dương.
Malraux chạm chân được xuống đất. Đầu tiên, hắn nhướng đầu ngón chân cái, rồi hắn đặt cả bàn chân. Hắn đi một đôi giầy rất nhẹ bằng da và vải. Hắn có thể chuyển động mà không gây ra một âm thanh nào. Tất cả những món đồ lặt vặt quanh đây chẳng bõ cho hắn mang theo, đằng nào hắn cũng chỉ lôi chúng lên thuyền cho mục đích ngụy trang. Toàn đồ chẳng mấy giá trị. Thoáng nhẩm lại, gã đàn ông tin chắc hắn hành động đúng và thời điểm này là lúc ra tay thực hiện kế hoạch. Chỉ chờ thêm vài tiếng đồng hồ nữa thôi, có thể mọi việc đã trở thành quá muộn.
Căn phòng hẹp, đầy những người ngủ và rất u tối, mặc dù có hai ngọn đèn cháy ở khoảng tường trước mặt.
Gã đàn ông bò trên cả tứ chi. Cách ra cửa tốt nhất là chịu khó chui xuống bên dưới những chiếc võng. Chúng treo trên đầu hắn như những tấm lưới nặng nề. Gã đàn ông nghe âm thanh của những người đang ngủ. Nhiều cái võng đã oằn xuống dưới sức nặng của người nằm, đến độ quệt cả vào tóc gã.
Con đường dẫn vào phòng chứa đồ được hai người lính canh chừng. Họ có vũ khí, thế nhưng Malraux không sợ. Xử lý hai người này là chuyện dễ dàng. Hắn lại có lợi thế là đã quen biết họ trong mấy ngày qua.
Con tàu chòng chành chầm chậm bước theo những đợt sóng dài. Gã đàn ông có mái tóc đen và bộ ria lởm chởm lẹ làng chuyển động theo nhịp sóng. Không khí thật ngột ngạt. Cả gương mặt và toàn bộ cơ thể hắn bây giờ phủ một lớp mồ hôi rất dày. Gã cũng bốc mùi chẳng khác gì những người đàn ông đang ngủ kia.
Gã bò về phía cửa.
Tới bên ngưỡng cửa, gã đàn ông đứng lên, chạy đến bên một cửa sổ nhỏ, ném một cái nhìn về hướng Bắc – hướng đó là bờ biển nước Pháp.
Gã chưa nhìn thấy nó, nhưng gã có thể linh cảm ra nó, bởi có những đường viền mờ mờ đang hiện lên dưới ánh mặt trời gay gắt. Gã sẽ dễ dàng vượt qua được khoảng cách này, nó hoàn toàn chẳng thành vấn đề đối với người bơi giỏi như gã. Ngoài ra, hướng sóng cũng đang đổ về biển và đang có một cơn gió nhè nhẹ thổi tới từ hướng Nam. Những kẻ khéo léo như gã có thể để cho sóng mang mình lên, và thậm chí còn nghỉ ngơi trong khi bơi.
Mọi việc diễn ra trôi chảy. Khi cẩn thận mở cánh cửa ra, hắn chẳng nhìn thấy người lính gác nào. Cửa gỗ có kêu lên cọt kẹt đó, nhưng chắc đám đàn ông đã quá mệt trong một ca gác quá dài.
Hắn lẻn ra ngoài.
Ngay lập tức, hắn cảm nhận được một luồn gió thổi thẳng vào mặt. Nó thoáng và lạnh hơn, gây cảm giác dễ chịu, nhưng vẫn chưa đủ mạnh để xua khô lớp mồ hôi dày trên mặt hắn.
Từ bên trên, ánh nắng len lỏi qua những kẻ hở trên những tấm ván, rọi vào không gian trong bụng chiếc tàu buồm và vẽ lên trên mặt đất bẩn thỉu những hình ngoằn ngoèo sáng màu, nơi có vô vàn hạt bụi nhỏ đang nhảy múa.
Gã đàn ông biết gã phải đi về đâu. Những ngăn kho lớn nằm ở giữa và đuôi con tàu. Nơi gã muốn tới là một phòng nhỏ nằm ở dãy kho đầu.
Con tàu đã được tạo dựng rất tiện lợi. Ở giữa có một lối đi chia phía dưới boong tàu ra làm hai nửa. Bên phải và bên trái là những dãy nhà kho chất đầy hàng.
Trước khi ra tới được lối đi ở giữa đó, gã đàn ông phải mở thêm một cánh cửa khác. Cánh cửa này gắn vào một vách ngăn ngang và đằng sau cánh cửa có hai người lính gác đang ngồi.
Gã biết rõ như vậy. Gã đã chuẩn bị thông tin từ trước. Tình hình hôm nay chắc chắn cũng sẽ như thế.
Malraux cất bước đi. Lẹ làng khéo léo như một tên ăn trộm. Hắn không mang vũ khí, nhưng đôi bàn tay với những ngón tay ngắn khỏe không ngừng chuyển động. Không được để cho chúng trở thành đờ đẫn, dại khờ! Những người dân ở xứ Osmanen đã dạy cho hắn một số mánh khóe, có thể dùng tay trần bóp chết người.
Bầu không khí u ám trong bụng con tàu như một làn khói cô đặc. Một bầu không khí không bao giờ thật sự yên lặng. Mặc dù hắn không nghe thấy tiếng bước chân người, nhưng tiếng sóng vỗ không ngừng vào vách gỗ tạo nên một nền âm thanh luôn hiện hữu. Cả những ván gỗ thật ra cũng luôn phát âm thanh và chuyển động. Chúng rên rỉ như những tù nhân. Đứng ở đây, gã không nghe thấy tiếng reo ù ù của cánh buồm, tiếng thổi phần phật của vải, vốn được một số người coi là bí hiểm. Chỉ thỉnh thoảng gã mới nhận ra âm thanh trầm **c của những bước chân chạy trên boong. Thỉnh thoảng hắn lại nghe tiếng ra lệnh vẳng nhẹ từ bên trên xuống, hoặc một tiếng thét, một câu chửi rủa. Thế thôi.
Có cái gì vút qua mặt hắn như một bàn tay hết sức dịu dàng. Đó là đám lưới nhện đang phủ lòng thòng từ trên trần phòng xuống. Nhện ở đây không lo chết đói. Thỉnh thoảng lại có những con ruồi béo phì sa vào lưới.
Đến bên buồng gác, Malraux dừng chân. Hắn biết hắn chỉ có một mình, mặc dù vậy hắn vẫn cẩn thận nhìn quanh. Gã đàn ông không phát hiện ra ai. Gã cũng không nghe thấy âm thanh nào khả nghi. Trong một góc phòng có những cây bạch lạp đang cháy. Chúng chảy ra, trông như những khúc xương da trắng đã bị vứt đi.
Đằng sau vách ngăn ngang là hai người lính gác. Đó không phải là thủy thủ, mà là những người lính được thuê về đây. Họ không quan tâm tới chuyện các giáo phái và họ chỉ chấp nhận tiền lương bằng vàng. Trong phòng họ ngồi bây giờ không tối hẳn, bởi ánh sáng đang lọt vào qua những khe hở nhỏ trên những vách gỗ. Mặc dù vậy, căn phòng vẫn gây ấn tượng rất u ám, như đang có vô vàn những bóng đêm nhảy múa trên nền phòng.
Malraux gõ cửa.
Gã không gõ chậm hay gõ khẽ. Gã đập thật mạnh cả nắm đấm vào cánh cửa gỗ, đòi hỏi, yêu cầu, để hai người lính trong kia biết có người đang muốn vào trong.
Đầu tiên, không có phản ứng. Thế rồi hắn nghe thấy một tiếng động. Thanh chắn bằng gỗ ở phía trong được kéo sang bên. Cánh cửa mở. Nó vừa mở vừa kêu lên một tiếng kêu tởm lợm khiến Malraux nổi da gà. Quầng sáng của một ngọn đèn dầu chiếu vào hắn, người lính gác đang giơ cao cây đèn, giơ thẳng lên trên đầu khiến những bóng đèn phủ lên mặt anh ta.
Malraux không nhìn thấy mặt người lính gác bởi nó đã chìm xuống trong cái hỗn hợp giữa bóng đen và ánh đèn. Nhưng hắn nghe được giọng anh ta.
- Anh muốn gì?
- Tôi phải nói chuyện với các anh.
- Thế thì nói đi.
- Không phải ở đây. Đừng để cho ai nghe thấy tiếng chúng ta. Chúng ta… ta phải nói chuyện riêng.
- Tại sao?
Người lái tàu cử tôi xuống. Anh ấy… anh ấy có một thông điệp gửi riêng cho hai anh. Mọi việc đã được thống nhất với thuyền trưởng. Vàng, rất nhiều vàng. Kể cả những đồ nữ trang quý giá.
Người đàn ông chần chừ. Malraux nghe thấy tiếng anh thở. Cả hai khái niệm “vàng và đồ nữ trang” luôn dễ dàng khiến cho những tên lính đánh thuê dỏng tai lên. Họ không biết những cái hòm kia đang chứa những gì. Họ chỉ nhận nhiệm vụ canh giữ chúng, tất cả những chuyện khác họ không quan tâm tới.
- Vào đi!
Người lính gác thứ hai lên tiếng. Anh ta ngồi bên một chiếc ghế thấp, ở phía bên kia quầng sáng nên Malraux không nhìn ra anh ta.
- Có chuyện gì? – Anh ta hỏi.
- Anh này mang thông tin lại.
- Của ai?
- Của người lái thuyền. – Malraux nói nhanh. – Chuyện này dính dáng đến rất nhiều vàng, có lẽ nên cân nhắc.
Giờ thì người lính gác thứ hai cũng đứng dậy. Nỗi tham lam lóe sáng trên con mắt. Cả hai người đã bỏ mũ xuống, tấm khiên che ngực cũng vậy. Không khí trong lòng thuyền quá nóng, họ đã cởi chúng ta cho thoải mái.
- Nói cho tôi nghe đi. – Tên lính có vẻ háo hức.
Malraux vẫn còn chờ đợi. Họ có hai người. Gã phải tìm cách phân tán tư tưởng họ. Mà họ lại đang mang vũ khí. Những lưỡi giáo của họ ánh lên trong ánh sáng của lưỡi lửa bập bùng từ đĩa dầu.
Gã đàn ông thè lưỡi liếm môi, xin một ngụm nước.
- Chúng tôi không có. – Một tên nói.
- Có chứ, tôi biết là…
- Cho nó đi! – Người đàn ông đã mở cửa ban nãy vụt nói.
- Tùy anh.
Người đàn ông thứ hai bước vào phần trong của căn phòng tăm tối. Chỉ còn một người ở lại.
Malraux mỉm cười. Người đàn ông đó đứng bên cạnh gã, mũi giáo đang chỉa xuống đất. Kẻ lẻn vào chờ thời điểm thích hợp. Khi nghe thấy tiếng nước chảy, hắn biết là bây giờ nước từ trong một thùng rất lớn đang được chia sang thùng nhỏ.
Gã ra đòn nhanh hơn chớp.
Người lính gác hoàn toàn bất ngờ khi một khuỷu tay cứng như đá thúc mạnh vào giữa thân thể anh. Anh gục xuống, cảm giác khó chịu trào lên, khiến anh không kịp kêu ngay lập tức. Anh ngã người về phía trước.
Malraux chỉ chờ có vậy. Gã đấm hai lần vào gáy người đàn ông.
Người lính gác xỉu xuống. Malraux đã giành lấy cái giáo trong tay anh.
Gã đàn ông lại mỉm cười lạnh lùng đi về phía trước, đến gần bóng tối.
Tiếng bước chân vang lên. Người lính gác thứ hai quay trở lại. Chắc chắn anh ta đang cầm một bình đầy nước. Anh ta không mang vũ khí, và không biết là Malraux đang chờ cho tới lúc nhìn thấy hình dáng anh hiện ra trong quầng tối.
Gã lấy đà, và phóng cây giáo nặng.
Người lính gác hoàn toàn bị bất ngờ. Malraux không nhìn được rõ chi tiết. Gã chỉ nhìn thấy dáng người đó còn giật sang bên trái rồi sang bên phải một thoáng trong bóng tối, cái bình đựng nước đập xuống dưới đất. Thế rồi cả thân hình người đàn ông cũng đập xuống. Kêu lên một tiếng trầm **c, thân người đó giáng xuống nền phòng rồi không động đậy nữa.
Malraux hài lòng. Gã đã chuẩn bị rất tốt và bây giờ gã biết rất chính xác, gã có thể tìm phòng đựng đồ vật ở chỗ nào. Những cánh cửa thậm chí không được đảm bảo bằng khóa hay dây xích. Hắn chỉ cần dùng một thân gỗ nặng và đẩy chúng sang bên.
Sau khi đã làm việc đó xong, gã quay trở lại, lấy cây đèn dầu. Gã không quan tâm đến xác chết, mà cũng chẳng thèm ném một cái nhìn xuống thân người đang ngất.
Người đàn ông không động đậy.
Malraux đoán chắc, bây giờ gã sẽ không bị ai cản trở. Gã đang rất hồi hộp. Đôi môi gã run rẩy, hai đầu gối như đang mềm ra khi bước vào căn phòng chứa châu báu, đặt cây đèn sang một bên, lấy một hơi thật sâu và đưa mắt nhìn quanh.
Nó có ở đây không?
Có!
Cái hòm đó ở ngay bên cạnh hắn. Gã đàn ông thì thào:
- Giờ thì ta sẽ ra tay…

Chương 2

Cái hòm này trông không giống những cái hòm khác, thường mang hình dáng rương đựng đồ. Cái hòm này nhắc người ta nhớ tới một chiếc quan tài, và hình dạng đó có nguyên do riêng của nó.
Malraux không đến đây tay không. Hắn đã dắt sẵn vào lưng quần một khúc gậy sắt buộc vào một sợi dây. Gã rút gậy sắt ra. Trong ánh sáng của ngọn đèn dầu, gã nhìn cái đầu đã bị đập dẹp ra của khúc gậy và tỏ vẻ hài lòng.
Nó sẽ giúp gã dễ dàng cạy nắp quan tài.
Hắn quan sát nắp chiếc quan tài. Kẽ hở của nó và phần bên dưới trông rất rõ. Đây là nơi phải thúc gậy sắt vào. Gã thử một vài lần và sung sướng vô cùng khi nghe tiếng gãy nho nhỏ, cho biết gỗ ở một vài nơi đã bung ra. Hắn cầm gậy sắt bằng cả hai bàn tay,dồn sức lực và cuối cùng cạy được cái nắp hòm bật ra không quá khó khăn.
Tất cả đều trôi chảy.
Gã đổ mồ hôi vì làm việc thật tập trung và cái mùi chua chua của gã trộn với mùi máu chảy ra từ vết thương rất sâu trên ngực người lính đã chết. Máu đã tạo thành một vũng rất rộng quanh anh ta, nó trở thành nơi mời gọi những con ruồi béo phì đang hả hê kéo tới.
Gã đàn ông nghiến răng làm việc tiếp, gã buộc miệng nguyền rủa khi thấy nắp hòm dù đã nhích ra một chút, nhưng cúng hơn hắn tưởng.
Cuối cùng, việc cũng hoàn tất. Gã cầm vào nắp hòm bằng cả hai tay và có thể nâng nó lên cao.
Nắp hòm từ từ mở ra.
Thành công!
Gã không nhìn được nhiều. Gã thở hổn hển không rõ vì hồi hộp hay vì mệt, gã bước sang bên và cầm cây đèn dầu lên. Gã đưa cây đèn dầu lại gần cái hòm, di chuyển nó dọc theo phần cuối hòm.
Ánh sáng tỏa xuống dưới, và chiếu lên một hình người. Đầu tiên, nó khiến Malraux không khỏi bị sốc.
Đó chưa hoàn toàn là một bộ xương người. Có những chỗ phơi ra xương trần nhợt nhạt trắng xám, như thể vừa được kỳ cọ, đánh bóng kỹ càng. Nhưng một số chỗ khác vẫn còn thịt và những mẩu da sót lại, bám vào xương, đặc biệt ở phần ngang vai và phần đùi trông cực kỳ ghê rợn.
Đã vậy cả những phần thịt này cũng đã thối rửa ra, ngả một màu xám như tro và chắc chắn chẳng bao lâu nữa cũng sẽ rụng hết ra.
Gã không quan tâm đến điều đó. Thứ duy nhất mà Malraux để ý tới là cái dáng người chưa mục hết này đeo vật gì bên mình.
Dây thắt lưng chưa bị mục. Nó được làm bằng da, và ở phía bên phải nó, Malraux nhìn thấy một chiếc bao đựng dao găm. Phần dưới dao đang thò ra bên ống xương nhợt nhạt. Gã không quan tâm đến bao da. Điều duy nhất quan trọng là cái gì đang thò cán ra khỏi cái bao này.
Đó là một con dao găm, cán của nó được quấn rất kỹ bằng một loại băng vải.
Khi Malraux đưa tay đến gần con dao, những ngón tay của gã run rất mạnh. Cổ họng gã nghẹn thắt, hai con mắt sáng rực lên như trong cơn sốt. Đã biết bao nhiêu năm nay gã chờ đợi giây phút này. Ước mơ quá lớn, không thể không hồi hộp.
Đây là mục tiêu tối thượng cho mọi mong ước của gã!
Gã đàn ông sờ vào cán dao. Băng vải quấn quanh cán gây cảm giác mềm mại. Nó uốn tựa vào lòng bàn tay gã, như thể nó được làm riêng cho gã.
Một nụ cười hiện lên trên đôi môi khô cứng và rạn nứt. Bằng một cử chỉ vội vàng, gã đàn ông rút món vũ khí ra khỏi cái bao đựng bằng da đã rạn.
Gã quan sát lưỡi dao. Trong ánh sáng của ngọn đèn dầu, nó gây ấn tượng như đang được phủ một lớp mỏng bằng máu. Lưỡi dao như đang sống, đang chuyển động, đang gửi thông điệp. Malraux lấy hơi thật sâu, xoay lưỡi dao rồi ép nó một thoáng lên môi mình.
Gã thấy thật dễ chịu, khi cảm nhận lưỡi thép đó, như thể nó đang thổ sức sống vào người gã.
Malraux lại hít một hơi thật sâu.
Gã hoàn toàn không đếm xỉa đến những rương đựng đồ và những chiếc hòm khác nằm trong phòng. Dĩ nhiên gã có thể dễ dàng mở một trong những chiếc hòm đó ra và vơ vét không biết bao nhiêu đồ quý giá nằm trong, nhưng chuyện đó cũng sẽ cướp đi của hắn những phút giây quí báu. Gã đàn ông đang muốn biến mất càng nhanh càng tốt. Gã muốn lên trên boong tàu, nhảy xuống nước và bơi vào bờ. Ngay cả khi bọn người kia có phát hiện ra gã, chuyện chắc chắn sẽ xảy ra, thì cũng sẽ không một kẻ nào có thể truy đuổi được gã. Chúng không thể làm điều đó được. Chúng phải đến Marseile càng nhanh càng tốt.
Gã cất con dao găm bên dưới cái quần cũ kỹ đã có giấu sẵn một bao dao, được làm rất tỉ mỉ cho chính món vũ khí này.
Malraux tỏ vẻ hài lòng.Việc còn lại của gã bây giờ chỉ là biến mất cho thật nhanh. Nhưng gã cũng phải cẩn thận, không được tỏ ra quá vội vàng. Đừng khinh suất! Nếu không mọi việc sẽ thành uổng phí.
Gã xoay người ra khỏi hòm chứa đồ.
Con tàu vẫn tiếp tục phăng phăng đi theo hướng định trước. Nó lướt trên đầu những con sóng rất dài, chuyển động nhẹ nhàng như đã biến thành một con chim.
Cũng có thể Malraux có cảm giác như vậy, bởi gã đang tiến gần thành công. Cảm giác đến mục tiêu mọi ước mơ của mình thật tuyệt vời, chỉ còn vài bước chân nữa là gã sẽ đến với chiến thắng chung cuộc.
Những con ruồi nặng nề bóng nhảy vo ve quanh xác chết. Chúng đậu cả xuống vũng máu, bây giờ đã được phủ một lớp màu thẫm bên trên. Gã đàn ông xoay người sang trái. Một tay của hắn đang cầm cây đèn dầu. Cây đèn chuyển động theo những nhịp chân hắn. Nó ném những vệt tối như những con ma u ám lên tường và xuống nền phòng, những con ma thật thích hợp với khung cảnh chết ***c xung quanh.
Người đang ngất nằm gần cửa ra vào. Malraux cân nhắc xem có nên giết cả người lính canh này hay không, nhưng rồi hắn bỏ ý định. Chẳng bao lâu người ta cũng sẽ biết ai là kẻ ra tay giết ***c và cướp đồ vật ở đây. Chẳng cần phải để lại thêm một xác chết thứ hai.
Gã bước qua thân người bất động. Đúng lúc muốn bước tiếp tới cửa dẫn ra ngoài thì gã nghe thấy một tiếng động thật khẽ. Malraux quay người lại. Nhưng…
Muộn rồi!
Một bàn tay đã nhanh như chớp tóm lấy cổ chân gã. Tóm rất mạnh và rất chặt, khiến Malraux kêu lên. Không bước tiếp được, gã ngã người sang bên, chiếc đèn rơi xuống nền phòng, vỡ toang.
Dầu chảy ra ngoài.
Những lưỡi lửa xuất hiện, tham lam như những ngón tay kẻ cắp. Lửa phụt thẳng vào vũng dầu.
Có tiếng gào nhẹ.
Thế rồi đám lửa bùng ra, bốc lên cao. Nó phun ra phì phì, nó nhuộm một màu đỏ ***i, bí hiểm và ma quái. Malraux nhìn thấy người vừa ngất nay đang chuyển động mà không buông chân hắn ra. Anh ta muốn bám vào hắn, lấy chỗ kéo để đẩy người lên. Anh ta vẫn còn chưa hết choáng váng, ánh mắt còn đờ đẫn, miệng và mặt nhăn nhúm.
Tình thế báo hiệu một kết cục u ám.
Ngọn lửa mỗi lúc một ngoạm thêm nguyên liệu. Chỉ còn vài phút nữa thôi, nó sẽ lan rộng qua xung quanh. Ngay bây giờ đã có một luồng khói gay gắt bốc lên cao, khiến đôi mắt của người lính gác chảy nước.
Malraux không dùng cây dao găm, mà nắm bàn tay trái lại thành quả đấm. Gã đàn ông ra đòn vô cùng tàn bạo.
Nắm đấm bay thẳng vào đầu người đối diện. Lần này, gã đấm ba cú liên tiếp. Lực bám vào cổ chân hắn lỏng ra. Thế rồi bàn tay trượt xuống, người lính gác lại ngã đập xuống mặt phòng, lăn người một vài vòng nhảy nhót trên nền gỗ.
Malraux đứng bật dậy.
Gã thừa hiểu, gã không còn thời gian để dập tắt đám cháy. Ngọn lửa có quá đủ con mồi quanh đây và chẳng bao lâu, nó sẽ biến cả con tàu thành địa ngục lửa.
Cho tới lúc đó, gã phải rời khỏi boong tàu.
Họ ngập ngụa, mắt trào nước, gã đàn ông leo ra khỏi phòng. Gã đi lảo đảo trên hành lang, thỉnh thoảng đập người vào vách tường, giơ tay sờ cán dao găm và vui vẻ khi biết rằng món vũ khí vẫn còn nguyên vẹn bên người hắn. Chắc chắn nó sẽ bảo vệ cho hắn.
Gã phải lên được boong tàu càng nhanh càng tốt, trước khi có người nhận ra đám cháy. Làn khói gay gắt bây giờ đã cuộn sang nơi khác. Gã đàn ông không nghĩ đến chuyện đánh thức những người đang ngủ. Gã để mặc kệ cho họ xoay trở với tình huống bất ngờ.
Malraux lao người qua một cánh cửa thấp. Đi đến boong, gã cúi xuống, ẩn đằng sau những cuộn dây lớn. Xung quanh hắn không có ai. Gã nghe loáng thoáng những tiếng người từ xa, trên đầu hắn là tiếng phần phật của cánh buồn trong gió. Gã cũng nghe tiếng nước đang chảy quanh mạn tàu, nó cho gã niềm hy vọng và gã lén về hướng đuôi tàu.
Thế rồi gã trèo lên được mỏm gỗ cuối đuôi tàu. Đứng trên đó và nghe thấy một tiếng kêu lảnh lót, biểu lộ tất cả những nỗi kinh hoàng khi con tàu bị cháy.
Lửa…! Cháy! Lửa!
Có ai đó giật chuông báo động.
Những tiếng kêu của nó vang lên đồng thời với bước nhảy gọn gàng của Malraux xuống dưới sâu, xuống dưới mặt nước màu xanh xám, xuống với luồng nước cuồn cuộn sáng.
Chỉ một tích tắc sau, luồng nước nuốt chửng lấy hắn. Chính xác hơn là chở che cho hắn trong vòng tay mênh mông.
Nếu có thể, gã đàn ông bây giờ sẽ cười thật lớn. Nhưng vì đang ở dưới nước, gã chỉ nghiến hai hàm răng, lòng vô cùng sung sướng.
Thật sâu, biển sâu nhưng gã có cảm giác êm đềm lạ! Gã lặn xuống dưới và bơi với những cánh tay quạt rất mạnh về hướng Bắc, về hướng bờ biển của nước Pháp. Gã phải lên được bờ biển đó và phải bước lên bờ trong một đoạn vắng người. Những đoạn vắng người như thế ở đầu này rất nhiều. Malraux không biết bao nhiêu thời gian đã trôi qua. Thiếu không khí, gã đàn ông trồi lên trên. Gã lấy hơi, tràn đầy hai lá phổi, và không quay nhìn lại, bởi mỗi giây đồng hồ bây giờ đều vô giá. Gã biết mỗi con tàu khi chìm xuống đều gây ra những vũng nước xoáy rất mạnh, kéo xuống dưới sâu tất cả những gì đang tình cờ có mặt quanh nó. Lúc đó thì kể cả những người bơi giỏi nhất cũng không còn cơ hội.
Gã bơi, rồi lại ngẩng lên lấy hơi, rồi lại tiếp tục bơi, và tới một lúc nào đó, Malraux dừng lại ở mặt nước bên trên.
Lúc bấy giờ gã mới quay đầu nhìn lại.
Nằm dài theo dọc luồng nước, gã nhìn về hướng sau.
Gã nhìn thấy chiếc tàu buồm.
Trên đầu nó bây giờ là một đám mây khói đặc kịt, tỏa rộng ra xung quanh. Trong lòng đám mây nhảy nhót vô vàn những lưỡi màu đỏ thẫm đang trèo lên cánh buồm. Con tàu bây giờ đã nghiêng về hướng sau và sang bên trái. Chẳng bao lâu nữa, nó sẽ chìm xuống nước.
Gã đàn ông bật cười.
Gã cười như chưa bao giờ cười trong cuộc đời của gã, cho tới khi một làn sóng chạy ngang phủ xuống đầu gã, bóp nghẹt tiếng cười. Gã đàn ông bơi tiếp.
Bây giờ thì gã biết rõ là gã sẽ đến được mục tiêu của mình.
Gã sẽ đến được bờ biển và chẳng bao lâu nữa gã sẽ thuộc vào một trong những kẻ quyền thế của đất nước này.
Con dao găm sẽ mang lại cho gã quyền lực đó…
nvdtdnguyen
21-02-2007, 07:44 PM
Chương 3

Malraux quả đã bơi được vào đất liền và đi lên bờ. Đối với gã, đó là một ngày tuyệt vời. Sóng biển gần bờ không đến nỗi quá mạnh, gã có thể bơi vòng tránh những dãy núi đá có thể gây nguy hiểm. Tới nơi, gã nằm thật lâu trên nền cát mềm mại cho đến khi mặt trời ngả đầu về hướng Tây và cuối cùng, biến mất trong mặt nước biển.
Malraux không biết chính xác gã đã bơi cụ thể vào địa phương nào. Nhưng gã biết, dọc khúc bờ biển này của nước Pháp có rất nhiều khu dân cư và nhiều làng chài nho nhỏ. Ở đó gã cũng sẽ kiếm được chút gì để ăn. Gã đàn ông nghĩ như vậy và lên đường. Không khí không còn quá nóng như lúc ban trưa.
Gã tiến tương đối nhanh. Những vách núi đá vẫn còn tỏa ra một chút hơi nóng mà chúng thu lượm được trong ngày, đã khiến cho cơn khát trong hắn dâng lên. Ở đây không có nguồn nước, kể cả mảng thực vật cũng sơ sài. Nhưng đi thêm chút nữa, gã thấy hiện ra những túp lều, những ngôi nhà đầu tiên. Một khu dân cư nho nhỏ, nằm lọt thỏm trong một cái vịnh. Nơi sinh sống của dân đánh cá.
Gã lẻn vào ngôi làng.
Gã tìm được nước. Gã nhìn thấy một cái giếng bên cạnh một ngôi nhà. Trên thành giếng có để một cái gàu bằng gỗ. Gàu đầy nước, gã đàn ông cúi xuống, uống thỏa thê.
Có ai đó bước tới.
Đó là một người đàn ông già nua, dáng điệu hiền lành. Ông ta gật đầu với gã.
- Anh từ xa tới đây phải không?
- Vâng.
Người đàn ông ấy quan sát hắn bằng vẻ kiểm tra, nhưng không nói gì. Malraux không thích bị nhìn bằng ánh mắt như vậy. Hắn đã muốn quay lưng đi thì ông già lên tiếng mời hắn vào nhà ông.
- Ông có phải là dân đánh cá không? – Malraux hỏi cố giữ lễ phép.
- Có thể nói như vậy.
- Tôi vào nhà ông để làm gì?
- Anh không muốn ăn gì hả?
- Có chứ. – Gã đáp vẻ mừng rỡ, bởi vì gã đang đói.
- Thế thì vào đây.
Ngôi nhà được xây bằng những hòn đá sáng màu. Nó chật chội và tối tăm, bởi những khoảng hở nhỏ trên tường chẳng có ánh sáng lọt vào. Malraux thấy rất dễ chịu với không khí lành lạnh trong nhà, cũng như với luồng sáng tỏa ra từ những cây nến đặt trong một chiếc đĩa gỗ để giữa bàn.
Ông già ngồi đối diện với hắn và nhăn một vài lần sóng mũi cong cong của mình.
- Anh bốc lên mùi muối và nước, mặc dù người anh đang khô. Anh bơi từ biển vào đây hả?
- Vâng.
- Anh bơi rất lâu phải không?
- Vâng. – Hắn luôn muốn tiết kiệm lời nói.
- Tôi đã nhìn thấy khói bốc lên từ biển khi tôi đứng trên một vách đá. Có phải thuyền của anh bị cháy không?
- Vâng.
Người đàn ông tóc bạc mỉm cười, đứng dậy và bước đến gần một chiếc giá bằng gỗ.
- Anh muốn ăn phải không?
- Ông có gì nào?
- Cá. Cá khô. Được phơi giòn dưới ánh nắng mặt trời. Tôi cũng có bánh mì và rượu vang.
- Vâng, thế thì tốt.
Người đàn ông già nua phục vụ hắn. Ông ta làm điều đó với một vẻ tự nhiên khiến Malraux phải kinh ngạc. Vì không quen với kiểu hiếu khách như vậy, gã đàn ông đâm nghi ngờ và cẩn trọng. Hắn không muốn bị rơi vào một sự ngạc nhiên độc ác.
- Chúc anh ăn ngon miệng!
- Cảm ơn.
Cá rất ngon, không mặn quá, và rượu vang thì hơi lành lạnh, khiến cổ họng và dạ dày Malraux mừng vui. Gã mừng vui vì mọi thứ đã nằm lại sau lưng, nhưng gã không chịu được ánh mắt quan sát của ông già. Khuôn mặt ông đang nhảy nhót và méo mó một cách lạ kỳ đằng sau ánh nến.
Gã vẫn chưa tin tưởng ông già.
- Cho tôi thêm chút nước được không?
- Cả rượu vang nữa chứ.
- Không, chỉ nước thôi.
Ông già gật đầu, đứng dậy và bước ra hướng ngoài. Malraux không nghe thấy ông ta làm gì ngoài đó. Chỉ tới khi nghe tiếng rít của dây thừng bên giếng và tiếng cọt kẹt của gỗ vang lên, gã mới thở ra hài lòng. Với một can đầy nước trong tay, người đàn ông tóc trắng quay trở lại.
- Ông sống một mình sao? – Malraux hỏi.
- Chẳng phải bao giờ cũng một mình.
- Thế còn ai sống trong nhà ông nữa?
- Lần thì người này, lần thì người nọ. – Ông ta đổ nước từ can vào cốc.
Malraux uống. Nước lạnh làm mát từng tế bào cơ thể khiến hắn tỉnh cả người.
- Nhưng ông không phải là dân đánh cá?
- Tại sao không?
- Tôi quen nhiều dân chài. Ở ngoài kia đã bắt đầu tối rồi. Bây giờ là lúc người ta sửa soạn lưới.
- Tôi già quá rồi.
Ông già lại ngồi xuống, và nét mặt của ông nhợt nhạt đằng sau ánh nến. Khi đặt thêm một câu hỏi nữa, ông chủ nhà khiến khách suýt nghẹn.
- Anh có phải dân Templer không? Anh là một người trong số họ hả?
Malraux im lặng. Gã uống và ăn con cá cuối cùng. Ông chủ nhà để cho hắn thời gian suy nghĩ, rồi sau đó mới nhắc lại câu hỏi, tới lúc đó Malraux mới phản ứng.
- Tại sao tôi phải là một người của dòng đạo Templer?
- Bây giờ người ta rất hay gặp họ. Họ đang bị truy đuổi như những con thú. Người ta đang bám sát lấy chân họ. Cả nhà thờ Thiên Chúa giáo, kể cả mật thám của nhà vua cho đến Giáo hoàng cũng đã đưa ra những đội quân riêng. Người ta sẽ tóm lấy họ, sẽ ném họ vào nhà tù và tra tấn.
- Tôi biết.
- Anh có phải là người của dòng đạo Templer không? – Ông già cương quyết hỏi. Một phần những từ ngữ của ông có vẻ như đang bị những lưỡi lửa nến nuốt chửng.
Malraux muốn nhận ra ánh mắt rình mò hiểm độc trong giọng nói đó, nhưng gã không tìm được.
- Ông sẽ làm gì nếu gặp một người của dòng đạo Templer?
- Tôi chưa rõ.
- Ông có giao nộp anh ta không?
- Không! – Ông già lắc đầu. – Đầu tiên tôi sẽ thử tìm hiểu. Nếu anh ta là một người tốt thì tôi sẽ che giấu cho anh ta. Nếu anh ta là một con quỷ thì tôi sẽ thả anh ta ra cho bọn người truy đuổi. Anh thấy đấy, tôi là người trung thực. Giờ thì anh có thể nói ra sự thật.
Malraux nheo hai con mắt lại.
- Đối với ông cái gì là tốt, cái gì là xấu? Ông làm cách nào mà biết được?
- Một số người vốn theo đạo Templer nay đã biến đổi niềm tin vào đạo giáo của họ. Như thế là không tốt, bởi bây giờ thì họ phục vụ cho quỷ dữ. Cũng có thể họ không còn cơ hội khác, bởi họ bị bỏ rơi. Điều đó có thể xảy ra. Người ta luôn phải tính đến trường hợp đó, đúng không?
- Tôi không phải là người của dòng đạo Templer. – Gã quyết định phải nói như vậy. – Thế nhưng ông biết nhiều về họ ư?
- Đúng, những ai đã trở nên già nua như tôi, người đó đã từng trải qua rất nhiều sự kiện. Người đó nhìn thấy nhiều thứ và họ thường chẳng được những người trẻ tuổi hơn cao trọng. Thế nhưng những người tuổi trẻ tuổi đó quên rằng kể cả người già cũng có mắt để nhìn và tai để nghe. Và cùng với tuổi già, họ có một sự khôn ngoan nhất định mà những người trẻ tuổi không có được. Tất cả những ai cười giễu một người già nên nghĩ tới những điều đó. Tôi biết rồi thế nào cũng có chuyện xảy ra, để thống nhất, họ đã từ lâu chia ra làm hai phe. Nhưng tôi cũng biết người ta không thể hủy diệt được họ, bởi họ sẽ luôn luôn tìm cách tụ hội lại với nhau, tạo thành một cách liên hợp mạnh mẽ.
- Ông có phải là phù thủy không?
Ông già lắc đầu.
- Tôi chỉ là một người khôn ngoan, anh bạn trẻ ạ. Chỉ khôn ngoan thôi…
Đột ngột, Malraux cảm thấy bối rối và kinh hãi trước người đàn ông. Gã không biết gã phải xử trí như thế nào. Gã phải ở lại đây hoặc là biến đi? Phải đấm gục ông già xuống, phải giết ông ta để xóa đi một dấu vết? Hay là gã cứ đơn giản để sự kiện xảy ra và tiếp tục thử thách ông già thêm một lúc nữa?
- Những ý nghĩ anh đang có trong đầu là không tốt đâu, anh bạn trẻ. Hãy nghe lời tôi, chúng không mang lại lợi ích gì.
- Ông biết thế thật sao? – Gã gần như rúng động.
- Đúng, sự khôn ngoan mách bảo cho tôi như vậy. – Ông già vẫn cứ giữ cái giọng đều đều.
- Thế thì nói cho tôi biết, tôi là ai.
- Anh đang trên đường chạy trốn. Anh đã làm một điều gì đó, có thể là một chuyện hết sức quan trọng và quyết định đối với khoảng đời trước mắt của anh.
- Tôi đã làm gì?
- Nếu anh không tự kể cho tôi, thì tôi cũng không biết đâu. Tôi không phải là phù thủy.
Malraux gật đầu. Thế rồi gã mỉm cười, cân nhắc, và cuối cùng ra quyết định. Gã đưa bàn tay phải lên cái cán được quấn vải của con dao găm, nhưng chưa rút hẳn vũ khi ra khỏi bao. Thay vào đó gã nói:
- Bây giờ tôi sẽ chỉ cho ông một vật điều mà ông nên coi là một bằng chứng của lòng tin. Nếu ông thật sự khôn ngoan và biết rất nhiều, chắc chắn ông đã nghe nói đến chuyện này rồi. Đúng, tôi tin chắc như vậy.
Trước khi ông già kịp phản ứng, Malraux đã rút cây dao găm ra và đặt nó trên bàn.
Bây giờ nó nằm đó. Được ôm ấp bởi ánh sáng của những ngọn nến, khiến cho những đường nét của nó mềm ra, cứ như thể nó có thể tan chảy ra bất cứ lúc nào. Nhưng nó vẫn nằm lại và ông già bị lay động mạnh mẽ đến mức ông bất giác lắc đầu. Ông giơ hai cánh tay lên, áp chặt hai bàn tay vào hai bên má và những thớ thịt phủ làn râu màu trắng của ông giần giật. Đồng thời, răng ông đánh lập cập vào nhau. Cơn ớn lạnh tóm chặt lấy ông, như bị bao vây bởi một nhà giam và Malraux e rằng hắn vừa phạm một sai lầm khủng khiếp.
- Ông sao thế?
Ông già không nghe thấy lời hắn.
- Trả lời đi! – Hắn nói to.
- Không, không…
Malraux không buông tha.
- Ông biết món vũ khí này, đúng không? Chính ông đã biết nó. Chắc ông đã nhìn thấy nó một lần, ông bạn. Ông biết nó trong hoàn cảnh nào?
Phải qua một khoảng thời gian khá lâu, người đàn ông già nua mới cất lên thành tiếng. Ông ta thở nặng nề. hai con mắt anh ánh nước. Vội vàng, ông uống một vài ngụm rượu vang. Thế rồi ông hạ đầu xuống, thì thào trả lời:
- Nó là một công cụ của quỷ Satan, một dấu hiệu độc ác. Anh đã mang con quỷ vào nhà tôi. Anh đã gọi hồn nó dậy. Anh là một tay chân của địa ngục!
May mắn làm sao, ông già chỉ lào thào, thì thầm, bởi Malraux không muốn bất kỳ một ai khác nghe thấy những từ ngữ đó. Cố gắng lắm gã mới giữ được bình tĩnh, ngồi im và chỉ nở một nụ cười hiểm ác trước khi cất tiếng nói.
- Tôi vẫn chưa hiểu nó theo phương diện này. Tôi chỉ biết, con dao xuất xứ từ vương quốc của đạo Hồi. Nó có nguồn gốc từ châu Á…
- Con dao này là của hắn!
- Ai kia! – Gương mặt hắn giãn ra.
- Của quốc vương Harun El Basra. Nhóm đạo Templer đã ăn cắp nó. Nhóm đạo Templer muốn giữ con dao này. Họ biết rõ con dao này có sức mạnh như thế nào. Họ đã giấu con dao này trong quan tài của một người đã chết, đúng không?
- Ông biết nhiều đấy.
- Đúng, tôi biết nhiều. Tôi đã nghe một nhóm người nói chuyện về nó, nhưng đó là nhóm Templer thứ hai, những kẻ bây giờ quay sang phục vụ cho quỷ sứ, bọn tay chân của quỷ Satan bây giờ muốn chiếm lấy con dao, bởi con dao này bị quỷ ám. Nó là cái Ác. Người mang nó cũng sẽ là người ác. Anh ta chỉ nghĩ rằng anh ta đã điều khiển được nó, và con dao sẽ nghe lời anh ta, nhưng đó là một sự nhầm lẫn nghiêm trọng. Công cụ của quỷ dữ không bao giờ nghe lời một con người. Công cụ của quỷ dữ được làm ra cho quỷ dữ, chứ chẳng phải cho con người như chúng ta. Nó sẽ mang lại thảm họa cho chúng ta. – Ông già nói tiếp, giọng thống thiết. – Nó sẽ không mang lại may mắn cho anh đâu. Vì thế hãy nghe lời tôi khuyên. Cầm lấy nó, bước ra những vách núi ở ngoài kia, và ném nó xuống nước, ném nó xuống chỗ biển sâu nhất.
Malraux mỉm cười. Ông già muốn dùng những câu nói để cảnh báo, nhưng chỉ đạt được ở gã đàn ông này một hiệu quả ngược lại. Bây giờ gã mới thật sự quý mến món vũ khí vừa ăn cắp được. Dĩ nhiên, gã hiểu là tóm được con dao trong tay là gã sẽ đạt tới một cấp bậc quyền lực nhất định và nôn nóng muốn thử thách quyền lực đó. Gã tiếp tục mỉm cười, chuyển động bàn tay cho tới khi đặt bên mép bàn, từ từ đưa nó về hướng con dao. Bàn tay bò tới như một con rắn đang dần dần rút ngắn khoảng cách chỗ con mồi.
Ông già không nhìn thấy điều đó. Ông đang bị sốc. Ông ngồi cúi người về phía trước, chống khuỷu tay lên mặt bàn và đưa cả hai tay che mặt.
Malraux vẫn tiếp tục mỉm cười. Gã bây giờ trông giống một con quỷ hơn là con người.
Con dao găm là điều quan trọng.
Bây giờ càng quan trọng hơn lúc nào hết.
Hắn trườn bàn tay tới và đột ngột dừng lại. Nó nằm im lặng ở đó, như những móng vuốt nhợt nhạt của một người đã chết, bởi hắn cảm nhận rằng hắn không cần phải đẩy tay tới nữa. Hắn đã chạm vào vũ khí.
Malraux có cảm giác như hắn và con dao găm bây giờ đã được nối với nhau bằng một cây cầu. Một cây cầu tinh thần, mạnh mẽ đến mức độ không một kẻ nào có thể chia cắt.
Hắn và con dao găm thuộc về nhau. Ý nghĩ đó quay cuồng trong đầu óc gã đàn ông. Gã có cảm giác như một thế lực xa lạ và hoàn toàn khác biệt đang để lại cho hắn một thông điệp, nhưng thông điệp đó chưa đến được với đầu óc hắn, bởi còn quá nhiều vật trở ngại trên đường đi, những trở ngại phải được dọn dẹp.
Một khi những chướng ngại vật này bị tiêu diệt, sẽ không kẻ nào, không vật gì ngăn cản được hắn nữa.
- Mi thuộc về ta. – Gã thì thào, ông già không nghe thấy vì tiếng nức nở của ông đang to hơn giọng gã đàn ông nói. – Mi thuộc về ta, về ta chứ không phải một kẻ nào khác. Ta đã đi kiếm mi, ta đã tìm thấy mi, ta đã giải thoát cho mi và ta muốn mi chỉ nghe một mình mệnh lệnh của ta, chỉ nghe theo một mình ta. Chừng nào ta còn sống, chừng nào ta còn đủ sức mạnh để cầm mi lên, cả hai chúng ta sẽ là những chiến hữu của nhau. Ta muốn mi dẫn đường cho ta, cũng như ta muốn mi để ta dẫn đường mi. Ta muốn chúng ta tạo thành một đơn vị thống nhất, bởi chúng ta thuộc về nhau. Hai chúng ta đã đi tìm nhau, và đã tìm thấy nhau. Mi là cứu tinh của ta, và ta đã là cứu tinh của mi. – Gã đàn ông hơi cúi đầu xuống, nhìn chăm chăm vào mũi dao. Mũi dao có vẻ như biến dạng dưới ánh nến và ngày càng gây ấn tượng mạnh mẽ hơn là nó có thể chảy ra bất cứ lúc nào.
Malraux mỉm cười. Gã chỉ nhìn thấy một con dao găm đó, gã tập trung toàn nội lực vào nó và đồng thời vào một yếu tố khác.
Vào hai cái chết, vào việc giết người!
Cả hai luồng điện đó gặp nhau, bổ sung lẫn cho nhau và mạnh mẽ hơn hẳn trong lưỡi dao có pháp thuật, giải tỏa cho toàn bộ sức mạnh của nó bùng nổ ra ngoài.
Con dao chuyển động!
Người ngoài nhìn không ai hiểu được, bởi nó xoay mặc dù không có bàn tay nào chạm vào nó.
Chỉ qua sức mạnh tinh thần và sức mạnh của chính nó. Bởi nó cũng chính là chủ nhân.
Malraux nghe thấy tiếng gã cười. Không phải tiếng cười vui vẻ và tự do, mà vất vả và ngạc nhiên. Những cảnh tượng đầu tiên xuất hiện trước con mắt tinh thần của gã. Gã có cảm giác như mình là một siêu nhân đang ném được một cái nhìn vào tương lai và biết được quyền lực của bản thân.
Gã cùng món vũ khí của quỷ Satan.
Gã và cái Ác!
Những bóng tối của ánh nến nhảy nhót trong mắt gã. Trông Malraux thật độc ác, như một con quỷ đã nhập vào hình người, đang ngồi bên một cái bàn bình thường.
Gã ra lệnh đầu tiên.
- Lên cao!
Con dao phản ứng. Nó đột ngột bay dọc mặt bàn và dừng lại ở một độ cao ngang với khuôn mặt của người đàn ông già nua. Khuôn mặt đang được che sau hay bàn tay.
Con dao xoay tròn.
Nó xoay từ từ, hầu như đang ra vẻ thích thú. Có lúc nó hướng mũi dao về hướng Malraux, rồi sau đó lại xoay về hướng gã đàn ông cái cán được quấn vải. Cái cán đang kêu kên khe khẽ, như thể làn chất liệu quấn cán đang tung ra những tia lửa li ti.
Một điều kỳ diệu.
Một pháp thuật độc ác, quỷ quái, và Malraux cảm giác hắn là người bất khả chiến bại. Con dao găm này là tất cả những gì mà gã mong ước trên đời. Gã hoàn toàn không thể tưởng tượng được, đấy là một kẻ hầu người hạ tốt nhất, chung thủy nhất. Nó đơn giản có một không hai, nó tuyệt vời, nó sẽ nghe lời gã. Nó chỉ nghe theo những dòng suy nghĩ của gã và làm tất cả những gì mà gã yêu cầu.
Gã sẽ chỉ cho kẻ thù của gã biết, ai là kẻ mạnh hơn. Nhưng kẻ thù của gã hiện thời đang ở đâu?
Malraux đã biết câu trả lời, và nụ cười quái gở trên gương mặt của gã mỗi lúc một rộng hơn, một quỷ quái hơn.
Cho tới nay, gã chỉ nói chuyện lý thuyết với mình. Thế nhưng cơ hội thí nghiệm rõ ràng đang nằm trong tay gã. Gã đưa ánh mắt nhìn về người đàn ông già nua. Ông ta đã đưa gã vào nhà của mình, ông ta đã tiếp đãi gã như một vị khách, nhưng ông ta đứng về phía bên kia.
Đó là điều ngu xuẩn nhất của ông ta!
Con dao vẫn xoay tròn trong không khí. Malraux muốn nó dừng lại, gã ra lệnh đanh gọn:
- Thôi.
Món vũ khí tuân lời. Nó xoay một lần nữa, rồi dừng lại, chỉ vào cổ của người đàn ông già nua, một cần cổ được phủ bằng một lớp da mỏng, nhăn nheo, rám nắng. Cái cần cổ giật lên giật xuống cùng huyết hầu theo mỗi lần nuốt.
- Này, ông già… - Hắn cất giọng.
Ông ta không chịu nghe thấy.
Malraux cảm nhận rõ nỗi giận dữ và căm hờn ông già lớn lên trong tâm khảm hắn. Việc ông ta không nhìn gã cũng có thể coi là biểu thị sự khinh thường. Trước đây một vài giờ đồng hồ thì gã còn chịu đựng được, nhưng bây giờ thì không.
Không bao giờ nữa…
Không đời nào!
Và gã ra lệnh cho con dao găm.
- Giết!
Món vũ khí vẫn trực chỉ cái đầu nhọn của nó vào cần cổ nhăn nheo của ông già. Thế rồi nó chồm về phía trước. Malraux nghe một tiếng gừ khe khẽ khi mũi dao xé gió lướt tới. Một tích tắc sau đó, con dao đã tìm thấy mục đích, và cắm phập vào cổ họng của người đàn ông già nua.
Ông già thậm chí không kịp kêu lên một tiếng. Máu chảy tràn vào khoang miệng ông, xuất hiện những bóng tối trước mắt ông, kéo ông vào cõi chết.
Malraux ngồi trên ghế và quan sát toàn bộ cảnh tượng đó với mối quan tâm lạnh lùng. Chỉ tới khi suy luận ra những tương lai nào đang đứng trước mặt gã, Malraux mới cảm thấy sống lưng gã rởn nhẹ. Một tương lai bóng loáng, được đúc bằng vàng. Gã có thể nhảy lên mà hò reo vì mừng rỡ, nội tạng của hắn bây giờ đang chìm ngập trong những lưỡi lử hả hê.
Người đàn ông già nua ngã xuống đất và ngã ngửa.
Tiếng động kéo tên giết người ra khỏi trạng thái đờ đẫn. Gã đàn ông quỷ ám đứng dậy, đi vòng quanh bàn và nhìn xuống người đã chết.
Khi rút con dao găm ra khỏi vết thương, Malraux khích khích cười…

Chương 4

Malraux ra khỏi ngôi nhà của người đàn ông. Gã đứng trong bóng tối và tận hưởng màn trời đêm lành lạnh cùng ngọn gió đang vuốt ve mặt hắn.
Chẳng phải chỉ đêm nay thuộc về hắn, cả tương lai cũng là của hắn. Malraux bây giờ đã nắm trong tay một quyền lực và nếu hắn biết khéo léo tận dụng nó, hắn không phải chỉ có thể nhân đôi nó lên, hắn có thể nhân mười nó lên, nhân trăm nó lên. Những suy nghĩ quay cuồng trong đầu óc và gã đàn ông như sa vào một cơn say, tưởng tượng như gã đang bay lên khỏi mặt đất, bay qua những vách núi đá kia, bay ra tới biển.
Tuyệt vời! Tuyệt vời! Tuyệt vời!
Gã rời ngôi làng. Tới một lúc nào đó người ta sẽ tìm thấy xác ông già và hỏi kẻ nào là thủ phạm? Nhưng điều đó không khiến gã băn khoăn, bởi không một ai nhìn thấy gã. Không một câu trả lời nào đúng cả.
Sau bữa ăn, gã cảm thấy mình đã khỏe trở lại, bất chấp những cố gắng của ngày hôm trước. Gã thấy mình đủ sức để đi bộ tới một khu dân cư lớn hơn, nơi gã có thể an tâm trà trộn vào dân chúng trong thời gian đầu. Để tồn tại, hắn cần có tiền hay vàng. Gã sẽ có cả hai thứ đó dưới sự trợ giúp của con dao găm.
Con dao bây giờ là bạn gã, là đối tác, và trên con đường đi qua bóng đêm, gã vừa đi vừa luyện tập với nó.
Lần này con mồi của chúng không phải là người nữa, mà là những con thú không kịp tránh. Gã truy lùng những con thỏ, gã giết rắn, điều này khiến gã vô cùng vui mừng, bởi gã thấy con dao của gã nhiều khi chuyển động còn nhanh hôn cả loài bò sát.
Màn đêm khiến gã hứng thú.
Cứ mỗi khi đâm chết được một con thỏ, gã lại sung sướng hít vào người hơi máu nóng. Gã biết rất rõ, cái mùi này sẽ còn bám theo gã suốt đời. Năm này qua năm khác, nạn nhân này qua nạn nhân khác…
Đến khi bình minh thức dậy thì gã phải trốn tránh, bởi có một nhóm lính dạo quanh khu vực. Gã để cho nhóm lính đi qua, rồi xoay hướng bước theo họ trên một con đường nhỏ. Gã giữ khoảng cách gần, để luôn luôn nhìn thấy mùi bụi vẩn lên sau chân họ. Điều duy nhất gã quan tâm bây giờ chỉ là món vũ khí. Nó khiến gã cảm thấy mạnh mẽ, vô cùng mạnh mẽ.
Khi bình minh đã chiếu sáng bầu trời từ phía đông, gã đàn ông vẫn thấy chưa mệt mỏi. Gã có cảm giác như người vừa đủ, bởi gã vô cùng tin chắc vào việc làm của mình.
Băng qua một con suối nhỏ bằng một cây cầu cổ bằng đá, gã nhìn thấy những nóc nhà của một thành phố nhỏ nhô lên, màu trắng xen lẫn xám, rải rác
trong một thung lũng con con và trên cả triền núi. Trên triền núi có cả một nghĩa trang nhỏ. Cách chỗ gã đứng không xa, ngay bên cạnh ngọn tháp của ngôi nhà thờ là một ngôi nhà trông có vẻ rộng rãi, to lớn. Gã đàn ông chọn nó làm mục tiêu. Những người sống trong một ngôi nhà như thế này chắc chắn phải rất giàu có và hoàn toàn có thể chia sẻ một phần sự giàu có đó cho gã.
Đó là ngôi nhà của một thương gia.
Chỉ cần hỏi một vài người trong khu vực xung quanh, gã đã tìm ra điều đó. Hai giờ đồng hồ sau, gã nấp trong khoảng vườn của ngôi nhà. Khoảng vườn không phải chỉ được bảo vệ bởi những bước tường, mà có cả một vài nô lệ da đen. Họ không nhìn thấy gã, họ chỉ nhìn thấy con dao găm, nhưng ở những thời điểm quá muộn màng.
Gã đi vào trong nhà.
Gã cảm nhận một sự mát lạnh đến tuyệt vời bên trong ngôi nhà. Những khoảnh ao và những vòi phun nước ngoài vườn khiến ngôi nhà không chỉ mát dịu mà còn làm xuất hiện cả những bóng đen. Hắn biết rằng chủ nhân ngôi nhà đã sống một vài năm ở miền Trung Cận Đông và đã đưa một vài nét kiến trúc ở đó về nước Pháp.
Gã tìm thấy người đàn ông trong vườn, ông ta đang nằm dài trên một chiếc ghế sofa. Một người đàn ông béo phì với một cái bụng tròn như quả bóng, một gương mặt múp míp như mặt lợn, lơ thơ vài sợi tóc trên đầu.
Gã chơi trò mèo chuột với người đàn ông.
Gã chỉ cho ông ta biết con dao của gã có thể làm được gì. Nó không phải chỉ biết giết, nó cũng có thể gây ra những vết thương, hoàn toàn như ý của chủ nhân của nó muốn.
Vậy là ngay lập tức, Malraux trở thành giàu có.
Tên giết người rất muốn mang thêm, nhưng sức vác của hắn chỉ có hạn. Số vàng này sẽ đủ cho việc khởi đầu một tương lai mới.
Thêm một lần nữa, gã ra lệnh cho con dao găm bằng thứ giọng lạnh tanh mùi máu:
- Giết!
Nười thương gia giàu có chết với một tiếng rên nho nhỏ trên môi khi chưa kịp hiểu vì sao phải chết.
Malraux rời căn nhà, cảm giác cả thể giới đang mở ra dưới chân gã, thuộc về gã.
Và thế là gã đàn ông mang lốt quỷ biến ra khỏi miền Nam nước Pháp, lặn thật sâu. Thỉnh thoảng người ta lại tìm thấy một vài dấu vết mơ hồ của hắn, những dấu vết chỉ rất ít người trong cuộc biết đến.
nvdtdnguyen
22-02-2007, 05:52 PM
Chương 5

Bá tước Dean Ellroy đưa cả hai tay cầm lấy tấm vải phủ bằng lụa, rồi giật nó lên cao.
Trong một thoáng, miếng lụa trôi bồng bềnh như một thiên thần dang cánh trên thân hình người vợ đã chết của ông, nhợt nhạt và cứng đờ. Bà nằm trên giường ông, mặc một bộ áo ngủ bằng lụa. Ở khoảng chính giữa, ngang với tầm cao của trái tim, nền lụa hiện rõ một vết màu đỏ. Công cụ chết ***c đó đã đâm trúng bà ở chỗ này.
Tấm vải phủ xuống, tấm vải màu tang.
Nó tỏa ra, trùm lên toàn bộ thân hình của người đã chết, cứ như Eireen cần phải được xóa khỏi ký ức của người chồng.
Với những bước chân nặng nề, bá tước Dean Ellroy rời khỏi phòng ngủ. Những suy nghĩ trong đầu ông xoay quanh Eireen. Ông biết, không một ai có thể trốn tránh được số phận của mình. Cả ông cũng không…
Ông đi qua ngôi nhà, thấy nó trống vắng đến tận cùng vì không có Eireen.
Người hầu kẻ hạ đã được ông gửi đi chỗ khác. Người chồng ngồi xuống phía sau bàn viết, vùi mặt vào giữa hai bàn tay. Bá tước Dean Ellroy bật khóc, ông khóc thương cho Eireen, người đã chết thay cho ông, bởi người mà con dao đó muốn hạ thủ là chính bản thân ông. Chỉ bởi Eireen thay đổi giường ngủ trong đêm nên Thần Chết đã tóm lấy bà. Bản thân ông đến câu lạc bộ và nghỉ đêm tại đó. Eireen biết tất cả, và không nói một lời nào. Cả đời bà là người ít nói, nhưng bà yêu ông bằng tất cả trái tim, cũng như ông yêu bà vậy.
Giờ thì bà đã chết.
Bà bị giết bởi một lời nguyền rủa mà lẽ ra không được tồn tại. Bị giết bởi một thứ vũ khí có tồn tại đấy, nhưng không hiện hình, bởi không ai nhìn thấy nó. Món vũ khí được điều khiển bởi những thế lực ma quỷ và bản thân ông là một trong rất ít người biết được điều này.
Có kẻ nào đó đã lôi nó ra khỏi nơi cất giữ. Kẻ đó muốn dùng món vũ khí này để diệt trừ những người đàn ông đáng kính trọng, và ông biết, một vài thành viên trong nhóm hội ăn thề của ông đã qua đời, tại nước Mỹ, tại châu Á, một người ở Berlin.
Bây giờ đến ông.
Bá tước Dean Ellroy thở nặng nhọc. Ông là một người đàn ông cao lớn có mái tóc đã xám trắng, khuôn mặt thon nhỏ với đôi mắt đại bàng tinh tường, một đôi mắt có thể nhìn thấu đến tận đáy tâm hồn người đối diện. Nhưng tất cả những nét tinh tường sắc sảo đó giờ đ

Back to posts
[Game Online Nhập Vai] - Vấn Kiếm 2012 - Vô địch PK
Vườn Thiên Đường - Cùng chơi game, trồng cây, kết bạn, tán gái
Siêu Bài iWin+ 2012 phiên bản mới nhất
+ Tải clip girl xinh trong phòng tắm
Sòng Bài 2012 - Tá Lả, Tiến Lên, Poker, 3 Cây


© 2012 Hà Văn Phú . All right reserved

Games cực đỉnh trên di động. TẢI NGAY MIỄN PHÍ!!!
C-STATU-ON

(Seo) Bạn đến từ :