Lamborghini Huracán LP 610-4 t

Wap đa chinh thuc chuyen sang dia chi moi

CLICK VÀO ĐÂY - TRANG CHỦ Www.HaiPhongWap.Net

Haiphongwap.net

Wap tai game cho dien thoai, Tai Hack avatar, Hack nam quoc son ha, hack khu vuon dia dang mien phi

HAIPHONGWAP.NET

Haiphongwap.net - Wap tai game cho mobile
Haiphongwap.net - Wap tai game cho mobile, Tai Hack avatar, Hack nqsh, kvdd mien phi - Haiphongwap.net

- Game Ai Là Triệu Phú bản 2012 online tiếng Việt
- Game Half life CS 1.3.6 cho mobile
- Phần mềm diệt virus cho điện thoại
trang wap doc truyen sex hay, tai mien phi game anh sex, phim sex cho dien thoai
Havanphu.Wap.Sh
Home | Clip 3x | Game
Tải Ola ken, phần mềm chát sex Ola kul cho điện thoại
Game Đột Kích dành cho mobile giống trên PC
Game Angrybirds bản java cho s40
Hack Avatar 193 auto mod full ghép x2 max speed
PM Chụp ảnh xuyên quần áo (Hot)
Kho game Việt hóa, Online chọn lọc cực hay
Opera độ nén file cực cao, tiết kiệm GPRS tối đa
Game Boom giống Vinagame trên PC
Avatar hack tự động làm nông trại
Tải game cho điện thoại miễn phí

Trang Chủ
Truyện ma có thật

Vào ngày 4 tháng Hai, 1986, nông gia John Reen điện thoại báo cảnh sát ông nhìn thấy một xác chết lõa thể của một phụ nữ trẻ trong cánh đồng gần nhà. Nhiều xe cảnh sát chạy đến hiện trường và họ khám phá xác chết là nữ y tá Anita Lorraine Cobby, người đã bị báo mất tích bởi gia đình ngày hôm trước. Nạn nhân rõ ràng đã bị kéo qua một hàng rào kẽm gai, bị đánh đập tàn nhẫn, với rất nhiều vết thương trên đầu, ngực, mặt, vai, bụng, đùi và hai chân. Cổ họng của cô bị cắt và chiếc đầu gần như đứt lìa. 
Các chuyên viên y khoa tin tưởng Anita Cobby còn tỉnh táo khi bị cắt cổ họng, và phải mất từ hai đến ba phút bị chảy máu cho tới chết. Anita Cobby cũng đã bị hãm hiếp rất nhiều lần. Điều duy nhất mà cảnh sát có thể giả định một cách chính xác ngay thời gian khám phá xác chết là "nhiều hơn một người, có thể là một nhóm" đã thực hiện tội ác ghê rợn này. 
Vụ giết chết Anita Cobby đã làm công chúng vô cùng giận dữ. Các bản thỉnh nguyện với hàng chục ngàn chữ ký ủng hộ việc tái áp dụng án tử hình đã được trao cho chính phủ NSW. Một đài truyền hình ở Sydney thực hiện một cuộc thăm dò trên điện thoại, ghi nhận gần 16,000 cú điện thoại, cho thấy gần 95 phần trăm ủng hộ việc tái áp dụng hình phạt tử hình. Đối với một công chúng đang hết sức hoang mang, các kẻ phạm tội ác tàn bạo này vẫn có thể đi lại tự do trên đường phố là điều không thể tưởng tượng được, và họ không xem chúng là những con người bình thường. 
Nhóm 5 tên đại ác này là những kẻ hèn nhát chuyên rình rập phụ nữ và tài sản của những người khác. Chúng ở tù như cơm bữa vì phạm các tội ăn cắp vặt, sử dụng ma túy, ăn trộm xe, lẻn vào nhà ăn trộm, ăn cướp có vũ khí, vượt ngục, mua bán đồ ăn trộm, hành hung và hãm hiếp. Tên đầu đảng là John Raymond Travers. Mặc dù chỉ mới 18 tuổi, cảnh sát tin rằng John Travers chịu trách nhiệm cho các vụ hãm hiếp ít nhất một chục người đàn ông và phụ nữ. Hắn đã vào tù ra khám kể từ khi 12 tuổi, lần đầu tiên bị bắt vì tội sử dụng cần sa. 
Nghiện rượu ở tuổi 14 và làm bất kể những gì hắn muốn, hoàn toàn không có sự kiểm soát của cha mẹ. Là anh cả trong số bẩy anh chị em, John Travers lớn lên trong một vùng ngoại ô lao động, Mount Druitt, thuộc miền tây Sydney. Nhưng nơi đây cũng là một trong năm vùng ngoại ô nổi tiếng ăn trộm và lạm dụng ma túy đứng đầu bảng. 
Khi người cha tài xế xe buýt, Ken, rời khỏi gia đình, bà mẹ của hắn, Sharon, đã không thể ứng phó được cảnh chồng bỏ con cái lêu lổng. Bà ta ăn uống vô độ và đã biến một thân thể cân đối trở thành béo phì, nặng hơn 120 ký, và thậm chí không còn có thể sinh hoạt bình thường trong nhà, như đi toilet và tắm rửa. Khi trở nên lớn tuổi hơn và mập phì, bà Sharon Travers sống phần lớn thời gian trong bệnh viện, điều trị nhiều chứng bệnh liên hệ trực tiếp đến thói quen ăn uống thiếu lành mạnh. Để mặc John coi sóc gia đình, và khi lậm vào rượu và cần sa hắn đã phải ăn trộm để có tiền. 
Một trong những điều ác độc mà John Travers rất thích làm là giết thú vật. Hắn rất thành thạo công việc này vì đã làm việc một thời gian ngắn tại lò mổ thịt ở địa phương. Hắn cũng rất thích làm tình với thú vật. Nhiều người quả quyết đã nhìn thấy John Travers giao hợp với cừu, heo, dê, gà và bò, và khi sắp đạt đến sự khoái lạc hắn kéo đầu con vật xấu số và cắt cổ họng nó. 
Thân thể của John Travers xâm khắp mọi nơi, kể cả dương vật của hắn. Nhưng hình xâm dễ nhận thấy nhất là giọt nước mắt ngay dưới con mắt trái, với hình xâm này hắn nghĩ làm hắn trông giống một tay anh chị dữ dằn. Thế nhưng Travers chỉ hung dữ khi đi chung với nhóm của hắn, những kẻ thường đánh đập, hãm hiếp phụ nữ và những người đồng tính tại trạm xe lửa và các nhà vệ sinh công cộng. Khi một mình, Travers là tên chết nhát. Nhưng đối với những đàn em khờ dại, hắn là tên đầu đảng gan dạ, chuyên xúi giục tấn công tình dục và hành hung. Chúng thường không bị trừng phạt bởi vì các nạn nhân không dám báo cảnh sát vì sợ bị trả thù. 
Thế nhưng một nạn nhân đã trình cảnh sát. Trong giữa năm 1985, Travers và nhóm của hắn đã đánh đập và hãm hiếp một cô gái tại Toongabbie, một nơi cách Mount Druitt vài cây số, và nạn nhân đã cung cấp cho cảnh sát một sự miêu tả rất chi tiết người đàn ông có hình xâm giọt nước mắt bên dưới con mắt trái. Khi Travers biết cảnh sát muốn tìm gặp để hỏi chuyện, hắn cùng với ba đồng bọn bỏ trốn tới Tây Úc mãi đến khi vụ này lắng xuống. 
Chúng lẩn quẩn ở vùng bờ biển nghỉ mát Mandurah, cách Perth chừng 60 cây số về hướng nam. Và chẳng bao lâu cảnh sát địa phương đã lưu ý nhóm đầu trộm đuôi cướp được cầm đầu bởi tên Travers có các hình xâm trên mặt. Chúng chạy lòng vòng thành phố trong chiếc xe với bảng số NSW. Travers làm quen với một thiếu niên 17 tuổi đồng tính luyến ái ở địa phương và sắp xếp cho một đàn em chụp hình hắn đang làm tình với cậu ta. Vào một buổi tối khi hắn ngà ngà say rượu và ma túy, Travers dẫn các đàn em tới nhà người yêu đồng tính này, đánh đập và hãm hiếp thiếu niên này ngay trước mặt các đàn em. Với các vết thương khắp mình mẩy thiếu niên này đã ráng lết tới trạm cảnh sát để trình báo. Cảnh sát vây bắt được hai tên nhưng Travers và tên đàn em còn lại đã tẩu thoát. 
Trở về Sydney, Travers tỏ ra rất tự hào kể cho một người bà con nghe vụ hãm hiếp tàn bạo này, (người bà con này được gọi là Miss X). Hắn nghĩ lầm Miss X rất ngưỡng mộ hắn. Nhiều lần trong quá khứ hắn đã tâm sự với Miss X, và cô luôn miệng nói rất thích nghe các câu chuyện hấp dẫn của hắn. Nhưng Miss X đã chẳng bao giờ tiết lộ cho bất cứ ai vì sợ John Travers giết chết nếu hắn biết được. 
Travers kể chi tiết vụ hãm hiếp thiếu niên đồng tính và đã cho xem các tấm hình mà đàn em của hắn chụp được. Hắn cho Miss X biết rất muốn cắt cổ họng người thiếu niên này khi đạt tới khoái lạc cực điểm. Như hắn đã làm với các con cừu. Miss X rất sợ hãi, và đây không phải là câu chuyện dễ quên được, do đó, tám tháng sau, khi nghe câu chuyện Anita Cobby bị hãm hiếp và giết chết một cách ghê rợn, cô đã nhớ ngay những gì Travers đã kể về vụ hãm hiếp tàn bạo ở Tây Úc. 
NHỮNG TÊN ĐÀN EM ĐẠI ÁC CủA TRAVERS 
Một trong những đàn em trung thành của Travers là Michael (Mick) James Murdoch. Mick rất ngưỡng phục Travers. Mẹ của hắn, bà Rose Murdoch, rất ghét sự ảnh hưởng của Travers đối với đứa con trai và bà đã khuyến cáo Mick nhiều lần rằng Travers sẽ làm hắn vào tù. Travers và Mick cùng tuổi và không rời nhau kể từ khi còn rất nhỏ. Chúng tự xem là hai anh em ruột, thường để tóc và mặc quần áo giống nhau, và xâm hình cho nhau trên thân thể. Cũng giống Travers, Mick Murdoch lớn lên trong một gia đình tan vỡ và đã gặp rắc rối với cảnh sát khi chỉ mới 12 tuổi. Lần phạm tội đầu tiên của hắn là hút cần sa với Travers. 
Với số tuổi 33, Michael Patrick Murphy là thành viên lớn tuổi nhất trong nhóm của Travers, nhưng hắn không phải là người khôn ngoan nhất. ở tù 25 năm vì 33 lần bị kết án tội đột nhập tư gia ăn trộm, và toan tính vượt ngục mới nhất của hắn đã thành công. Và thậm chí vụ vượt ngục này không phải do hắn hoạch định. Một tình huống bất ngờ xảy ra khi Murphy và một tù nhân khác được tin tưởng cho ra bên ngoài cổng nhà tù Silverwater và chúng đã quyết định tẩu thoát. Murphy đã chạy trốn trong sáu tuần lễ, ngay vào thời gian xảy ra vụ giết chết cô Anita Cobby. 
Murphy đã sống nửa đời người trong tù. Là con cả trong số chín người con, Murphy được trông đợi làm gương cho các em trai và em gái. Nhưng hắn đã bắt đầu phạm tội trong những năm đầu của tuổi thiếu niên và kể từ đó rất hiếm khi ra khỏi nhà tù. Xâm hình rất nhiều như Travers, Murphy nổi tiếng là một tên côn đồ hung dữ ở khắp các vùng ngoại ô phía tây Sydney. 
Hai em trai của Patrick Murphy, Les và Gary Murphy, là các thành viên còn lại trong nhóm của Travers. Cả hai đều phạm tội như cơm bữa. Trẻ hơn Patrick Murphy bốn tuổi, Gary Steven Murphy có một hồ sơ phạm tội rất dài, gồm nhiều tội ăn cắp xe, xâm nhập tư gia ăn trộm, hành hung và vượt ngục. Gary tự cho mình là một người chiến đấu, hay đánh lộn và bị cấm cửa bởi hầu hết các câu lạc bộ và quán rượu trong khu vực. Mỗi khi nốc vài ly rượu, hắn thường gây sự để đánh lộn, thế nhưng hầu hết những lần ẩu đả Gary đều bị đánh nhừ đòn. Cả khu xóm đều thở phào nhẹ nhõm khi cảnh sát tóm cổ Gary Murphy đưa vào tù. 
Người em trẻ tuổi nhất trong ba anh em Murphy là Leslie Murphy 24 tuổi. Rất giống Patrick và Gary, Les có một tính tình rất hung dữ và cái tật lắm mồm. Hồ sơ phạm tội của hắn cũng rất dài, gồm nhiều tội trộm tư gia, trộm xe và cả cưỡng hiếp. Ai cũng biết Les không gặp may mắn với các cô bạn gái và chỉ phương cách duy nhất mà hắn có thể thỏa mãn tình dục là "ăn bánh trả tiền" hoặc cưỡng hiếp. 
Mặc dù thường tỏ vẻ rất chì khi đi chung với bạn bè, thật sự thì Les Murphy rất sợ hãi khi một mình, hắn dựa vào sự nổi tiếng của hai người anh Gary và Patrick. Tương tự hầu hết các thành viên trong nhóm, Les sống phần lớn cuộc đời trưởng thành trong nhà tù. Ba anh em Murphy đã gặp nhau trong tù nhiều hơn khi sống ngoài đời. Những khi không trong tù, anh em Murphy tung hoành ở vùng Blacktown, Mount Druitt và khu vực thuộc phía tây thành phố Sydney. 
Với Patrick vừa vượt ngục và hai đứa em trai của hắn vừa được thả tự do, đây là một dịp rất hiếm để ba anh em Murphy gặp nhau bên ngoài nhà tù. Nhưng buổi tối Chủ nhật định mệnh đó, ngày 2 tháng Hai, 1986, ba anh em Murphy đã cùng đi với Murdoch và Travers trong một chiếc xe ăn cắp để săn tìm một nạn nhân. Và chúng đã gặp Anita Cobby. 
NGƯỜI CON GÁI ĐẸP YỂU MỆNH 
Anita Lorraine Cobby, 26 tuổi, là một y tá tại Sydney Hospital. Trước đây cô đã từng thắng giải hoa hậu và được nghĩ có sắc đẹp để trở thành một người mẫu chuyên nghiệp. Thế nhưng cô đã chọn công việc y tá. Anita sống với cha mẹ, ông bà Garry và Grace Lynch, trong một căn nhà nhỏ rất giản dị của gia đình ở Blacktown, một vùng ngoại ô cách trung tâm Sydney khoảng 40 cây số về phía tây. Ông Garry Lynch là một họa sĩ vẽ bản đồ cho hải quân cho đến khi về hưu trước đó vài năm. Người vợ, bà Grace, là một y tá và vẫn làm việc không thường xuyên tại một bệnh viện địa phương để kiếm thêm tiền trong tuổi về hưu. 
Ngoài Anita, ông bà Lynche có thêm một cô con gái 22 tuổi nữa, Kathryn. Cả hai cô gái này học rất khá, chẳng bao giờ đi chơi đêm và rất ưa thích bãi biển và cảnh ngoài trời. Anita là một học sinh suất xắc và được nhiều bạn bè yêu mến tại trường Evans High School ở Blacktown. Khi 20 tuổi, một người bạn của gia đình đã thuyết phục cô ghi tên tham dự cuộc thi hoa hậu Miss Australia để gây quỹ cho trung tâm trẻ em khuyết tật Spastic Centre. Gia đình Lynche đã biến việc từ thiện này thành một công việc của gia đình. Họ đi bán vé số tại khắp các trung tâm thương mại ở địa phương, thu tổng cộng được $10,000 và Anita được đội vương miện Miss Western Suburbs Charity Queen. Các tấm hình của một cô gái cao xinh đẹp, mái tóc quăn mầu nâu sậm, nụ cười duyên dáng đã xuất hiện trên tất cả các tờ báo. Chỉ trong thời gian rất ngắn Anita trở thành một người nổi tiếng. 
Thế nhưng Anita Lynch không muốn được mọi người chú ý đến. Cô có thể theo đuổi một sự nghiệp người mẫu đầy quyến rũ, nhưng với sự vui sướng của cha mẹ, cô đã nạp đơn xin được huấn luyện làm nữ y tá tại Sydney Hospital. Anita được chấp thuận và đã trở thành một y tá, cô làm việc rất siêng năng trong ngành giải phẫu. Trong khi làm việc tại Sydney Hospital, Anita đem lòng yêu thương John Cobby, một nam y tá đẹp trai lớn hơn cô 3 tuổi. John và Anita có cùng sở thích xem phim, nghe nhạc và cùng học với nhau. Cha mẹ Anita rất thích John và khi cặp tình nhân này hứa hôn, họ tin rằng con gái họ đã có được sự chọn lựa tốt nhất. 
Anita và John Cobby kết hôn trong tháng Ba năm 1982. Trong ba năm sau đó họ đã du lịch ngoại quốc rất nhiều lần, sống và làm việc một thời gian tại Coffs Harbour, một vùng duyên hải phía bắc tiểu bang NSW. Họ trở về Sydney trong năm 1985 và chỉ trong vòng vài tháng, cuộc hôn nhân này không hiểu vì sao đã kết thúc. Anita trở về sống với cha mẹ ở Blacktown. Cặp vợ chồng trẻ này giữ kín vấn đề tình cảm của họ, nhưng rõ ràng cả hai đều rất đau buồn bởi sự tan vỡ này. Họ vẫn thường xuyên liên lạc với nhau bằng điện thoại, nhưng đã không trở lại với nhau. 
Anita Cobby đã không gặp khó khăn khi trở lại làm việc tại Sydney Hospital. Cô đã đắm mình vào công việc để quên đi cuộc hôn nhân tan vỡ, dành hầu hết thời gian tại bệnh viện và giao tiếp với các bạn đồng nghiệp. Nữ y tá Cobby chẳng bao giờ quan tâm đến giờ giấc làm việc. Khi phải làm việc trễ buổi tối, cô thường điện thoại cho cha đến đón tại trạm xe lửa Blacktown. Và bất kể giờ giấc nào, ông Garry Lynch cũng sẵn sàng để đi đón cô con gái. Trong buổi tối Chủ nhật định mệnh đó tại sao Anita đã không gọi điện thoại cho cha đi đón, nhưng lại quyết định đi bộ về nhà, sẽ vẫn là một sự bí ẩn mà chẳng bao giờ có thể được trả lời. 
BUỔI CHIỀU CHủ NHẬT ĐỊNH MỆNH 
Sau buổi làm việc, vào lúc 5 giờ chiều Chủ nhật ngày 2 tháng Hai, 1986, Anita Cobby và hai người bạn nữ y tá đi đến một nhà hàng Lebanese ở Redfern để ăn cơm chiều. Lyn Bradshaw và Elaine Bray đã học cùng khóa y tá với Anita và họ đã trở thành bạn thân trong nhiều năm. Sau bữa ăn chiều đó, Lyn đã chở Anita đến trạm Central Railway để đón xe lửa về nhà. Cả hai người bạn đều đề nghị cô về nhà ngủ buổi tối hôm đó, nhưng cô từ chối, chào tạm biệt và bước vào trạm xe lửa. Ngoại trừ những kẻ giết người, đó là thời gian sau cùng mà bất cứ ai có thể nhớ lại đã nhìn thấy Anita Cobby còn sống. 
Khi cô con gái không gọi điện thoại ra đón buổi tối hôm đó, ông Garry Lynch đã không lo lắng gì cả. Anita thường làm việc rất trễ và ở lại đêm với các bạn đồng nghiệp trong thành phố. Cô là người hiểu biết và rất có trách nhiệm, do đó chẳng có lý do nào để ông Lynch phải lo lắng. Buổi trưa hôm sau khi người nữ y tá trực từ Sydney Hospital điện thoại hỏi thăm tại sao Anita không đi làm, ông Lynch liền đề nghị hãy liên lạc nhà người bạn của cô. Và khi được cho biết các người bạn đã có mặt ở sở và họ cũng đang rất lo lắng, ông Garry Lynch bắt đầu lo sợ. Ông điện thoại cho bà vợ ở sở làm và bà cũng không biết gì cả. 
Ông Lynch điện thoại khắp những nơi mà Anita rất có thể đến. Đến chiều tối ông quyết định báo cho cảnh sát Blacktown con gái ông bị mất tích, và ngày hôm sau gia đình ông bà Lynch điên cuồng vì lo lắng. Người chồng cũ John Cobby cũng đã tham gia cuộc tìm kiếm, liên lạc với mọi bệnh viện, bạn bè và các bạn đồng nghiệp. Nhưng vẫn chẳng có tin tức gì. Tất cả những gì mà gia đình có thể làm là chờ đợi và cầu nguyện cho Anita trở về nhà an toàn. 
Những gì mà các thám tử gan dạ đã nhìn thấy trên cánh đồng Boiler Paddock trong nông trại của ông John Reen ngày hôm đó chắc chắn sẽ hằn sâu trong đầu óc họ mãi mãi. Ông Reen khai với họ rằng buổi sáng hôm đó khi rời nhà ra đồng ông nhìn thấy các con bò có hành động rất khả nghi, chúng đi loanh quanh một vật gì đó trên mặt đất. Khi ông trở về chúng vẫn đứng trong cái vòng tròn đó và ông quyết định đến gần để xem điều gì xảy ra.
Cánh đồng Boiler Paddock tương đối xa từ căn nhà của ông Reen, và nó được đặt cho cái tên này bởi vì ông Reen nuôi tất cả các con bò già ở đó (boilers). Cánh đồng này chạy dọc theo con đường Reen Road, ở Prospect, một vùng ngoại ô chỉ cách trạm xe lửa Blacktown vài phút xe chạy. Xác của Anita Cobby được tìm thấy nằm bên trong hàng rào kẽm gai khoảng 100 thước, điều này cho thấy các tên giết người đã kéo cô qua hàng rào để vào cánh đồng cỏ. Bởi vì con đường Reen Road nổi tiếng là nơi hò hẹn của các cặp tình nhân, do đó một chiếc xe đậu ở đó vào buổi tối Chủ nhật không phải là điều bất thường. 
Khi Đại úy cảnh sát Kennedy và Thám tử Heskett đến gõ cửa gia đình Lynch ngày hôm đó, ông bà Grace và Garry Lynch đã lo sợ điều tệ hại nhất. Hai thám tử này nói với họ rằng cảnh sát đã tìm thấy xác chết của một phụ nữ trẻ trong một cánh đồng tại Prospect, và nó rất giống sự miêu tả cô con gái bị mất tích của họ. Đại úy Kennedy cho ông bà Lynch xem một chiếc nhẫn cưới mà họ lấy được từ xác chết. 
Sau đó các thám tử mời ông Garry Lynch đi cùng với họ đến nhà xác để nhận diện con gái của ông. Họ đã đứng đỡ ông Lynch nức nở nói lời vĩnh biệt cô con gái lần cuối cùng. Các thám tử này biết rõ rằng họ sẽ không bao giờ được yên tâm cho tới khi bắt được các kẻ giết chết Anita Cobby. Hai thám tử địa phương, Kevin Rause và Graham Resetta, đã được gọi đến. Cả hai đều là các cảnh sát viên nhiều kinh nghiệm, họ biết rõ mọi ngõ ngách của khu vực như trong lòng bàn tay. Kể từ giây phút đó, John Travers và các đồng bọn của hắn đã không có một cơ may nào cả. Dù phải mất cả phần đời còn lại của họ, Thám tử Kennedy và nhóm của ông sẽ không để chúng trốn thoát. 
Một nhóm đặc nhiệm được thành lập tại trạm cảnh sát Blacktown. Cuộc lục soát khắp cánh đồng cỏ Boiler Paddock đã chẳng tìm thấy gì cả. Mặc dù xác chết của cô ta trần truồng, không một mảnh quần áo nào của Anita Cobby đã được tìm thấy. Không có vũ khí giết người, không có động lực và cũng chẳng có lý do nào để Anita có mặt ở cánh đồng này vào lúc bị giết chết. Cô hoàn toàn không có kẻ thù và không liên hệ đến các kẻ tội phạm hoặc buôn bán ma túy. Cũng chẳng có một người yêu bí mật hoặc người đàn ông có gia đình nào trong đời cô. Anita Cobby thực sự là một tấm gương hoàn hảo của một phụ nữ rất đứng đắn. 
Cuộc điều tra của cảnh sát gặp bế tắc. Họ điều tra tiếng la hét mà ông Reen đã nghe thấy nhưng cũng chẳng đi đến đâu. Con đường Reen Road là nơi hò hẹn của các cặp trai gái, do đó tiếng la có thể từ bất cứ ai. Nhóm đặc nhiệm đã phải bắt đầu một công việc rất mất thời gian, kiểm tra hàng trăm kẻ tội phạm trong khu vực. Những kẻ phạm tội tình dục được chiếu cố kỹ nhất, thế nhưng cảnh sát vẫn không tìm ra bất cứ manh mối nào. Các thám tử đã thẩm vấn hai người bạn đi cùng với Anita trong những tiếng đồng hồ cuối cùng. ở thời điểm này thậm chí không ai biết chắc Anita Cobby có đã đón chuyến xe lửa tới Blacktown buổi tối hôm đó hay không. 
Và rồi manh mối đầu tiên xuất hiện. Các cư dân sinh sống trên con đường Newton Road, cách trạm xe lửa Blacktown vài trăm thước, cho biết đã nhìn thấy một cô gái bị kéo vào một chiếc xe hơi buổi tối Chủ nhật. Cô ta vùng vẫy và la hét. Họ điện thoại cảnh sát và miêu tả chiếc xe Holden Kingswood mầu xám và trắng. Cảnh sát mặc thường phục đã điều tra cú điện thoại này nhưng một cuộc lục soát trong khu vực đã không phát hiện gì cả. 
Các nhân chứng vụ bắt cóc này khai với cảnh sát rằng vào lúc 9 pm, họ nghe một tiếng hét rất lớn và liền chạy ra ngoài. Họ nhìn thấy một người đàn ông thò chân ra từ cánh cửa của chiếc xe Holden. Một phụ nữ có mái tóc mầu sẫm đã vùng vẫy và la hét dữ dội trong khi chiếc xe không bật đèn chạy đi mất. Hai trong số các nhân chứng này, Linda và John McGaughey, đã kinh hoàng trước những gì họ nhìn thấy. 
Khi người anh trai, Paul, và cô bạn gái, Lorraine Busher, về đến nhà một vài phút sau, John kể cho họ nghe và rồi Paul và Loraine chạy đi tìm chiếc xe này. Một trong những nơi mà Paul McGaughey đếm tìm là con đường nổi tiếng Reen Road, chỉ cách nơi Anita bị bắt cóc có vài phút xe chạy. Khi chạy được khoảng nửa con đường Reen Road, họ chạy ngang qua một chiếc xe HJ Holden mầu xám đời 1970, đậu ở lề đường và không có người bên trong. Họ đã không để ý đến chiếc xe này bởi vì sự miêu tả của chiếc xe mà họ nhận được là chiếc Holden Kingswood. Sau gần hai tiếng tìm kiếm khắp khu vực và một số địa điểm lân cận, họ trở về nhà. 
Mặc dù vẫn không thể xác định Anita Cobby có đã thật sự đón chuyến xe lửa trở về Blacktown hay không, cảnh sát phải giả định rằng vụ bắt cóc được trình báo này chính là người phụ nữ đã bị giết chết. Nó xảy ra vừa vặn thời gian cô ta đến Blacktown. Nhưng tại sao Anita đã không điện thoại cho cha ra đón? Hoặc tại sao cô đã không đón một chiếc taxi? 
Cảnh sát đã làm việc ngày đêm với vụ án giết người này. Họ đã quay trở lại cánh đồng Boiler Paddock vào ban đêm để có được "cảm giác" về những gì có thể đã xảy ra. Hàng trăm học viên cảnh sát đã được đưa đến để lục soát rất kỹ cánh đồng này, thế nhưng vẫn không mang lại kết quả nào. Sự hỗ trợ của công chúng rất lớn, hàng trăm cú điện thoại đã gọi đến nhóm đặc nhiệm. Và mọi cú điện thoại đều đã được đáp ứng một cách nghiêm túc. 
Hai ngày sau khi tìm thấy xác chết của Anita Cobby, chính phủ New South Wales đã ra giải thưởng $50,000 cho những ai cung cấp tin tức đưa đến việc bắt giữ những kẻ giết chết cô ta. Đường dây điện thoại của cảnh sát đã hoạt động rất bận rộn, nhưng tất cả đều không mang lại kết quả. Đến lúc đó cảnh sát đã không chắc người phụ nữ bị bắt cóc ở đường Newton Road là Anita Cobby. Có thể Anita đã đón một chiếc taxi và bị giết chết bởi người tài xế. Họ kiểm tra mọi tài xế taxi trong khu vực. 
Vào ngày Chủ nhật tiếp theo, một tuần lễ sau vụ giết người, một nữ cảnh sát viên đã diễn lại các hoạt động của Anita Cobby trong buổi tối cuối cùng với hy vọng có thể gợi trí nhớ của một người nào đó. Trung sĩ cảnh sát Debbie Wallace đã mặc quần áo tương tự bộ quần áo mà Anita đã mặc buổi tối cuối cùng đó và bước lên chuyến xe lửa tới Blacktown lúc 9 pm. Trong khi cô đi lại trong các toa xe, các thám tử đã phỏng vấn hành khách và cho họ xem hình ảnh của người phụ nữ bị giết chết. 
Từ trạm xe lửa Blacktown, Trung sĩ Wallace đã đi bộ khoảng nửa tiếng đến nhà gia đình ông bà Lynch ở đường Sullivan Street. Cảnh sát chạy theo sau trong một chiếc xe không mang dấu hiệu. Một số chiếc xe đã dừng lại và đề nghị cho cô cảnh sát có cặp chân dài rất hấp dẫn này quá giang. Nhưng họ không phải là những kẻ đã giết chết Anita Cobby. Một lần nữa, cảnh sát vẫn trở về tay không. 
TIẾN TRIỂN QUAN TRỌNG ĐẦU TIÊN CủA CảNH SÁT 
Vào ngày thứ Ba, 11 tháng Hai, một người trong công chúng đã điện thoại cho cảnh sát biết ông ta đại diện cho bốn công dân có tin tức về kẻ giết người nhưng không dám trình báo vì quá sợ hãi. Người đàn ông này đã gặp cảnh sát và cho biết John Travers và hai kẻ tội phạm khác, Mick Murdoch và Les Murphy, đã lấy trộm một chiếc xe vài ngày trước khi xảy ra vụ giết người và đã sơn chiếc xe này trở thành mầu xám. Chúng tháo các chiếc mâm xe "mag wheels" và thay bằng các chiếc mâm thường. 
Cuối cùng cảnh sát tin tưởng họ đã đi đúng hướng. Thật hết sức kín đáo, họ bắt đầu theo dõi nhưng nơi mà Travers thường lui tới. Họ không nói cho bất cứ ai biết về manh mối này vì sợ Traver và đồng bọn đánh hơi được và trốn thoát. Nhưng họ cần có thêm tin tức. Đến thời gian này chính phủ tiểu bang đã gia tăng tiền thưởng lên $100,000. Với củ cà rốt quá hấp dẫn này, một người đã xuất hiện và cung cấp một số địa chỉ mà John Travers có thể trú ngụ. 
Trong một cuộc đột kích buổi sáng sớm vào một căn nhà gần Wentworthville, cảnh sát tìm thấy John Travers và Mick Murdock ngủ chung giường. Chúng thú nhận đã ăn cắp chiếc xe nhưng lại một mực nói không biết đến vụ giết chết cô Anita Cobby. Cảnh sát tìm thấy một dao găm của Travers có dính các vết máu. Khi bị hỏi các vết máu này đến từ đâu, Travers trả lời hắn đã giết một con cừu bằng con dao này. 
Trong cùng thời gian bắt giữ Travers và Murdoch, cảnh sát cũng đã tóm cổ Les Murphy trong một căn nhà ở Doonside, một nơi cách xa chừng ba cây số. Trên chiếc xe Holden station của Les Murphy có các mâm xe "mag wheels" và các chiếc áo bọc ghế bằng da cừu từ chiếc xe bị lấy trộm này. Murphy thú nhận đã can dự đến vụ trộm chiếc xe này nhưng cũng phủ nhận bất cứ sự dính líu nào đến cái chết của Anita Cobby. 
Les Murphy và Mick Murdoch bị kết tội trộm xe và được tại ngoại. Cảnh sát đã bí mật theo dõi cả hai, hy vọng rằng Murphy và Murdoch sẽ đưa họ đến chiếc xe bị mất trộm. Đây là chứng cớ quan trọng nhất, bởi vì chiếc xe có thể cung cấp các dấu tay, các mẫu máu và quần áo mà cảnh sát rất cần đến để liên kết vụ bắt cóc ở đường Newton Road với vụ giết người và với nhóm Travers. 
TÊN ĐẦU ĐảNG THÚ TỘI 
John Travers bị giam giữ vì bị ngờ vực đã phạm một số vụ hãm hiếp trong khu vực, gồm vụ hãm hiếp một thiếu nữ ở Toongabbie cách đó tám tháng. Cảnh sát tra hỏi Travers về vụ giết chết Cobby nhưng hắn đã không nhìn nhận bất cứ điều gì. Travers yêu cầu có một người thăm nuôi. Hắn trao cho cảnh sát số điện thoại của Miss X, người phụ nữ mà hắn đã kể cho nghe vụ hãm hiếp một thiếu niên ở Perth vài tháng trước đó. 
Khi thám tử Kevin Raue điện thoại cho Miss X biết Travers muốn cô ta mang vào cho hắn một ít thuốc lá. Phụ nữ này đã nói những điều về John Travers mà cảnh sát rất muốn nghe, và họ đã thu xếp một cuộc gặp mặt tại một nơi công cộng ngay trong buổi chiều hôm đó. Khi họ gặp nhau, Miss X, một kẻ nghiện bạch phiến, cho biết rất lo sợ bị bắt gặp đang nói chuyện với cảnh sát. Miss X đã kể vụ hãm hiếp ở Tây Úc và thêm một vụ hãm hiếp khác nữa mà Travers đã nói cho cô ta nghe. Và cả trong hai trường hợp, Travers đã nói đến việc dùng con dao găm trên thân thể của các nạn nhân, tương tự phương cách mà nó thật sự đã được sử dụng đối với Anita Cobby. 
Miss X biết rõ John Travers là người mà cảnh sát đang muốn buộc tội và đã đồng ý giúp cảnh sát bẫy hắn. Cô ta sẽ hỏi Travers về vụ giết người này và rồi sẽ báo cho cảnh sát. Buổi sáng hôm sau, Miss X đến với một số gói thuốc lá cho Travers và đã được để nói chuyện riêng với tù nhân trong nửa tiếng. Khi trở về, mặt mày phụ nữ này tái xanh và run lên vì sợ. Cô ta bật khóc và cho cảnh sát biết Travers vừa kể rằng hắn đã giết chết Anita Cobby. Miss X làm một bản khai về những gì mà Travers đã kể và đồng ý vào thăm hắn lần nữa buổi sáng hôm sau. Lần này Miss X được gắn một máy thu băng trong người. Travers đã kể tất cả. Hắn đã khoe phương cách mà cả nhóm đã bắt Anita Cobby, hãm hiếp, đánh đập và cuối cùng Travers đã cắt cổ nạn nhân như thế nào. 
Cảnh sát đã không gặp khó khăn khi tóm cổ Mick Murdoch và Les Murphy. Chúng đã bị theo dõi kể từ lúc được tại ngoại. Murdoch có mặt ở nhà, Murphy được tìm thấy nằm trốn giữa hai người đàn bà dưới một tấm chăn đắp. Murdoch và Murphy đã khóc lóc và đổ lỗi cho John Travers khi chúng tự thú với cảnh sát. Travers bị lôi ra khỏi xà lim và đã viết bản thú tội, trong đó hắn nêu đích danh mọi đồng bọn đều dính líu đến vụ giết người này. Và hắn đã không phủ nhận là người thật sự đã giết chết Anita Cobby. 
Cảnh sát thông báo cho giới truyền thông ba người đàn ông bị buộc tội bắt cóc và giết chết Anita Cobby. Hàng trăm người đã đổ đến trạm cảnh sát Blacktown để bầy tỏ sự giận dữ và đưa ra các ý kiến nên làm gì đối với các tên vô loại này. Nhiều người đòi treo cổ chúng. Khi chúng được chuyển từ trạm cảnh sát tới tòa án địa phương Blacktown, nhiều người đã phỉ nhổ vào chiếc xe chở tù. Và khi ba chiếc xe này rời khỏi tòa án dân chúng đã vỗ tay khen ngợi cảnh sát. Lúc đó là 22 ngày kể từ khi cô Anita Cobby bị giết chết. 
Hầu hết các tờ báo đã đăng hình ảnh và các lời miêu tả nhân dạng của hai tên bị truy nã và khuyến cáo công chúng không nên đến gần chúng trong bất cứ trường hợp nào. Cảnh sát đã lục soát nhiều căn nhà trong khắp các vùng ngoại ô ở phía tây thành phố Sydney, nhưng cặp tội phạm này đã tránh né họ. Và rồi một người đàn ông gọi điện thoại cho biết có hai thanh niên rất giống sự miêu tả trên báo đang sống trong căn townhouse ngay bên cạnh nhà ông. Ngay tức khắc cảnh sát đã vây kín dẫy townhouse ở Tari Way, Glenfield, một vùng ngoại ô cách Blacktown khoảng 22 cây số. Khi một phụ nữ rời khỏi căn nhà, cảnh sát liền chặn bắt, cô ta cho biết hai anh em Murphy có mặt ở đó ban ngày nhưng đã đi khỏi. Cảnh sát không tin và quyết định xông vào căn nhà này. 
Với chiếc trực thăng cảnh sát, Polair, rọi đèn sáng cả khu vực, các thám tử đã đập cánh cửa xông vào nhà bắt giữ Mick và Gary Murphy. Lúc đó Mick đang ngồi xem truyền hình và không kháng cự. Gary toan tính chạy thoát ra cửa sau nhưng đã bị một cảnh sát vật xuống đất, và cả hai đụng mạnh vào một hàng rào, làm trầy mặt của Murphy. Sau này hắn khai đã bị cảnh sát đánh đập. Thật sự thì tên du đãng này quá sợ hãi đến độ "đái ra quần". Hai anh em Murphy bị áp giải đến trạm cảnh sát Blacktown và bị buộc tội giết chết Anita Cobby. 
Tin tức về vụ bắt giữ này đã lan nhanh như một trận cháy rừng và một lần nữa đám đông giận dữ đã tụ tập bên ngoài trạm cảnh sát Blacktown, kêu gọi "máu phải trả bằng máu". Có tới 1500 người đã làm tắc nghẽn các con đường chung quanh trạm cảnh sát, họ chờ đợi để được nhìn thấy mặt các tên giết người. Vào lúc 9 giờ sáng, hai anh em Murphy chính thức bị buộc tội tại tòa án Blacktown. 
HÀNH ĐỘNG MAN RỢ CủA BẦY DÃ THÚ 
Từ năm lời khai của các bị cáo, bồi thẩm đoàn đã nghe những gì thật sự đã xảy ra trong buổi tối khủng khiếp Chủ nhật, 2 tháng Hai 1986. Suốt buổi trưa và buổi chiều Chủ nhật đó Travers và nhóm của hắn đã uống rượu tại Doonside Hotel, và tất cả đều đã say. Chúng quyết định chạy rong chơi trong một chiếc xe mà Travers đã lấy trộm một tuần trước đó, và để có tiền đổ xăng chúng dự định giựt chiếc xách tay của một phụ nữ. 
Ngay lúc đó một người phụ nữ trẻ đẹp đi bộ một mình trên con đường Newton Road với chiếc túi xách đeo lủng lặng trên vai đã là một mục tiêu lý tưởng của nhóm du đãng này. Chúng ngừng xe ngay trước mặt Anita Cobby, Travers và Mick Murdoch nhảy ra và kéo nạn nhân vào trong xe. Chỉ vài giây sau khi bị kéo vào chiếc xe, Anita bị buộc phải cởi quần áo, nhưng cô cự tuyệt và nói nhiều lần với những tên du đãng này rằng: "Hãy tha cho tôi. Tôi đã có gia đình." Travers và Murdoch bắt đầu giựt xé quần áo và đấm vào mặt và đầu nạn nhân. Từ ghế trước Les Murphy đã chồm người ra phía sau đấm vào người Anita trong khi Michael Murphy tát vào mặt cô ta. Anita đã chống cự mãnh liệt nhưng không có cơ hội nào để thoát khỏi nanh vuốt của các tên quỷ dâm dục này. 
Chúng giữ con tin nằm trần truồng trên sàn xe ở băng sau trong khi ghé vào trạm đổ xăng, và trả tiền lấy từ chiếc bóp của Anita. Trên đường từ trạm xăng tới Reen Road, Travers và Mick Murphy đã thay phiên hãm hiếp Anita ở băng ghế sau trong khi những tên khác lục soát chiếc túi xách của nạn nhân. Chạy được nửa con đường Reen Road, chúng ngừng xe và lôi nạn nhân trần truồng vào một đường mương, tại nơi đó Travers, Garry Murphy và Les Murphy đã luân phiên hãm hiếp. Garry Murphy đã buộc Anita phải làm tình bằng miệng và kê dâm nạn nhân. 
Sau khi cả bọn đã thỏa mãn thú tính, thì bất chợt Michael Murphy nổi hung lên và hãm hiếp lần nữa, sau đó đấm đá Anita cho tới khi cô ta nằm bất động trên mặt đất. Les Murphy đã đá một cú thật mạnh vào đầu Anita trước khi chúng quyết định bỏ mặc nạn nhân nằm thoi thóp trên bãi cỏ và đi trở lại chiếc xe. Thế nhưng Travers tỏ ra không vui. Hắn bàn tính rằng Anita có thể đã nhận diện tất cả và đã nghe chúng gọi tên lẫn nhau, do đó cô ta phải bị giết chết. Travers nói với đồng bọn rằng: "Tao quay lại giết nó, không thể để nó sống để đi báo chúng mình. Tao sẽ cắt cổ nó." 
Cả bọn đã đồng thanh thúc giục Travers ra tay hành động: "Đúng, con nhỏ này đã thấy rõ mặt chúng mình. Hãy trở lại thanh toán nó đi." Chẳng cần nhiều sự khuyến khích, Travers đã đi trở lại chỗ Anita nằm, ngồi lên lưng, nắm tóc giật mạnh đầu lên và dùng dao cắt cổ họng nạn nhân. Hành động dã man giống hệt như hắn đã từng làm đối với các con cừu. Trong bản tự thú, Travers nhớ lại rằng hắn đã cắt cổ họng Anita hai lần. Và chứng cớ pháp y đã chứng thực điều này. Travers bỏ mặc nạn nhân nằm trần truồng trên bãi cỏ, chảy máu cho tới chết với chiếc đầu bị cắt gần lìa thân thể. 
Khi Travers đi trở lại xe, người hắn dính đầy máu của Anita và kiêu hãnh kể về hành động dã man mà hắn vừa làm. Sau đó chúng quyết định chạy xe đến nhà mẹ của Travers để tắm rửa. Trên đường đi, Travers đã kể chi tiết về hành động giết người ghê rợn này. Tất cả đều cười lớn và khen ngợi hắn rất chì và thông minh nhất. Không một kẻ nào trong đám giết người này đã có một chút sự ray rứt về hành động man rợ mà chúng đã làm. 
Travers giải thích với người mẹ các vết máu dính đầy trên quần áo là do giết chết một con chó đã tấn công hắn. Mick Murdoch thu nhặt tất cả quần áo và vật dụng của Anita trên xe, và cả bọn đứng uống bia trong khi đốt các tang chứng ở sân sau nhà. Năm ngày sau chúng lái chiếc xe ăn cắp đến một khu rừng hoang vắng và đốt cháy. 
Trong lời khai của các bị cáo, Gary, Les và Mick Murphy và Mick Murdoch đều một mực nói là đã không dính líu đến vụ giết chết Anita Cobby. Tất cả đều nói rằng cảnh sát đã đánh đập chúng và buộc chúng phải thú tội. Một khi Travers đã nhận tội, tất cả các tên đồng bọn đều đổ tội cho hắn. Gary Murphy quả quyết rằng thậm chí hắn đã không có mặt ở đấy trong đêm hôm đó. Hắn khai lúc đó đang uống rượu với các người bạn, nhưng lại không nhớ rõ ở đâu. 
Les Murphy đã khóc lóc và cầu xin Thượng Đế giúp làm cho bồi thẩm đoàn tin rằng hắn đã không hãm hiếp và đánh đập cô Anita Cobby. Trong khi Michael Murphy thì nói rằng chỉ có mỗi mình hắn đã cố gắng ngăn cản hành động kéo Anita Cobby vào trong xe. Còn riêng Mick Murdoch khai rằng hắn rất sửng sốt trước toàn bộ câu chuyện này và hắn ngồi trong xe không dính líu đến. 
Vào ngày 16 tháng Sáu, 1987, John Travers và các đồng bọn bị xử trong Tòa án Tối cao. Hàng trăm người đã đứng xếp hàng nhiều tiếng đồng hồ để theo dõi phiên xử này. Cuối cùng Quan tòa Maxwell đã tuyên bố bản án chung thân cho mỗi tên, và trong các tập hồ sơ của 5 tên tội phạm đại ác này đều được đóng dấu "Không Bao Giờ Được Thả". John Raymond Travers, Michael James Murdoch, Leslie Joseph Murphy, Michael Patrick Murphy và Gary Steven Murphy hiện đang bị giam trong các nhà tù kiên cố nhất của tiểu bang NSW. Và chúng sẽ chết rũ tù ở đó.

- Trang Chủ | Clip Sexy | Game

Lưỡi dao bị nguyền rủa

Cái chết đi cùng với họ, nhưng chỉ một người duy nhất trong thủy thủ đoàn biết điều đó. Cũng chính vì nó mà hắn ta đã bước chân lên con tàu này, rình mò để chờ cơ hội.
Gã đâu thèm quan tâm đến tất cả những vàng bạc, những bức tranh quý hiếm, những đồ nữ trang, những thứ lụa tuyệt đẹp ngày nào đã trang điểm cho hằng sa số những người đàn bà Hồi giáo. Gã chỉ muốn với tay tới một vật duy nhất!
Người đàn ông đó tự xưng là Malraux, nhưng đó không phải là tên thật của gã. Tên thật này không một ai trên tàu được biết, và gã cũng sẽ không bao giờ nói cho nghe. Gã phải giữ mọi việc trong vòng bí mật tuyệt đối. Mà khi mọi việc đã qua đi, người ta sẽ lại càng không dám thốt lên lời nào.
Hiện gã đàn ông vẫn còn nằm trên võng, trong căn phòng bên dưới boong tàu. Xung quanh gã là một bầu không khí ngột ngạt, nồng nặc, đặc quánh đến cả những con ruồi béo phị cũng ngừng bay, tìm chỗ nghỉ. Chẳng ai biết chúng xuất phát từ đâu, nhưng loài côn trùng quỷ quyệt đã tìm được đường đi riêng và bây giờ đang hiện diện nơi đây như muôn vàn đốm nhỏ óng ánh.
Malraux nghĩ tới việc con tàu này tới một lúc nào đó sẽ sang với Tân Thế Giới, để toàn bộ của cải châu báu của dòng đạo Templer được đưa về nơi an toàn. Khác với tại châu Âu, dòng đạo Templer không bị những dòng đạo khác ở Mỹ truy đuổi và tàn sát. Ở lục địa già, cứ mỗi khi ló mặt ra là thành viên của nhóm Templer đều biết điều duy nhất đang chờ họ là tra tấn, nhà giam và cái chết.
Gã đâu có muốn đi cùng con tàu này tới tận Tân Thế Giới. Gã đã lên thuyền tại Genua và họ đã vui vẻ đón nhận gã, bởi đa số thủy thủ đều e ngại cảnh cô đơn trên con đường dài vượt đại dương. Những con đường phủ đầy những cơn bão khủng khiếp, cái khát, cái nóng thiêu đốt dưới mặt trời đổ lửa, bệnh tật và cái chết. Chỉ những người đàn ông đặc biệt dũng cảm hoặc những người đàn ông chẳng còn gì để mất mới tham gia những chuyến đi nguy hiểm như thế này. Bản thân Malraux không biết mình thuộc nhóm người nào. Vì thế mà gã đàn ông đã tự tưởng tượng ra một nhóm người thứ ba và xếp hắn vào đó.
Đoạn đường từ Genua tới trạm giữa Marseile kéo dài vài ngày, bởi đầu tiên họ phải đi ngược chiều gió thổi từ hướng Tây hoặc Tây nam. Trong khoảng thời gian này, nhất định gã phải đạt được mục đích của mình.
Họ đã đi dọc bờ biển này đến hai ngày rồi, nhưng không bao giờ vào gần bờ tới mức người trên bờ có thể nhìn thấy. Lang thang trong vùng nước này chẳng phải là không nguy hiểm, đặc biệt đối với một con tàu có in hình cây thập tự Templer trên cánh buồm.
Lẽ ra phải quét vôi lên trên cây thập tự đó, nhưng lòng tự hào của những người trên tàu không cho phép. Thay vào đó, họ dự định vào vịnh Marseile trong đêm và một số người trong họ sẽ lên bờ ngay trong đêm đó để né tránh bàn tay truy lùng của Giáo hoàng và các vị giám mục Thiên Chúa giáo cũng như của cảnh sát ngoài đời. Tất cả những nhóm người đó đều rất muốn chiếm kho báu của dòng đạo Templer, bởi tất cả đều tham lam và đều đang sắp phá sản.
Chuyện đó chẳng khiến gã đàn ông mảy may quan tâm tới. Gã chỉ biết đến một mục tiêu duy nhất. Gã cũng sẻ biến mất tại Marseile, sẽ trà trộn vào đám người trên bến cảng để rồi chìm xuống không để lại một vết tích, như một con chuột lẫn vào trong hang sâu tăm tối.
Mặt biển tương đối yên lặng. Gã vừa thực hiện xong ca gác của mình. Ca gác tới sẽ chỉ bắt đầu khi màn đêm buông xuống nhưng sẽ có lượng người canh chừng gấp đôi. Thế nên dù có màn bao bọc của bóng đêm, đi tìm vật thể mà gã mong muốn vào thời điểm đó sẽ nguy hiểm hơn. Gã quyết định thực hiện kế hoạch dưới ánh sáng ban ngày.
Rất nhiều thủy thủ trên tàu không biết những gì đang được chứa trong những hòm rương trông rất đỗi bình thường đó. Người ta nói với họ rằng đó là thực phẩm và họ tin ngay lập tức.
Nhưng Malraux thì không.
Tỉnh như sáo, gã nằm thức trên võng trong khi những thủy thủ khác đều ngủ say. Gã nghe tiếng họ ngáy và cảm thấy ghê tởm. Đáng tiếc, gã phải chờ. Gã biết có một khoảng thời gian kể cả những người lính đang canh cũng sẽ giảm tập trung và ngủ nhiều hơn là gác.
Con tàu khẽ chòng chành. Những chuyển động truyền vào võng. Tiếng gỗ cọt kẹt, con tàu đang rên lên, cứ như thế nó đang khổ sở khủng khiếp vì chuyến đi này. Nếu cơn bão nổi lên thì không biết nó còn rên siết tới mức nào nữa?
Malraux nhìn trân trân lên trần phòng, làm như trên đó có treo một tấm gương cho hắn soi. Quả thật, hắn đang nghĩ tới ngoại hình của mình. Những ai gặp hắn thường tỏ vẻ coi thường khi thấy hắn quá nhỏ bé. Họ đâu có để ý đến cấu tạo cơ thể hắn. Gã có rất nhiều cơ bắp, rất khỏe mạnh và trong một vài tháng trời sống tại xứ Osamanen, gã đã học được nghệ thuật đấu vật. Một khi đã tóm được ai vào trong vòng tay, hắn có thể giữ nguyên người này ở tư thế đó thật lâu cho tới khi anh ta chết vì ngộp thở. Hắn đã thử nghiệm điều đó rất nhiều lần, rồi bình tĩnh bỏ đi, để lại những thân hình mất hết sức sống.
Đó là một thời gian tràn đầy bạo lực, chỉ có những kẻ nhanh hơn và mạnh hơn mới sống sót.
Những người khác vẫn đang ngủ.
Họ ú ớ, họ ngáy, một số người nói lảm nhảm trong mơ. Những người khác lại rên rỉ, một số vật vã và một số làm tất cả những điều đó. Cái mùi tỏa ra từ người họ thật ghê tởm. Nó bốc lên mùi mồ hôi, mùi đàn ông, mùi ghét bẩn và Malraux cũng biết trên con tàu này có quá đủ mọi loại côn trùng để truyền bệnh từ người này sang người khác.
Hắn chờ thêm một vài phút nữa, rồi gạt cái võng sang bên. Việc đứng dậy thật ra không khó, nhưng những người thủy thủ nằm quá sát nhau nên nếu không chú ý, hắm sẽ đạp phải họ khi nhảy từ trên võng xuống.
Hắn cẩn thận từng bước một. Linh cảm cho hắn biết bây giờ là lúc hắn có thể ra tay. Không chờ đợi nữa, bởi đột ngột hắn có cảm giác như con tàu này là con tàu bị nguyền rủa. Nếu hắn không lầm, thì hắn thậm chí vừa thoáng nhìn thấy một con chuột béo phì – cái thứ rác rưởi báo trước thảm họa.
Những kẻ thù đã biết người thuộc dòng đạo Templer muốn bỏ trốn và đã tụ tập những con tàu của mình lại. Cũng đã không ít người bỏ thân nơi đáy đại dương.
Malraux chạm chân được xuống đất. Đầu tiên, hắn nhướng đầu ngón chân cái, rồi hắn đặt cả bàn chân. Hắn đi một đôi giầy rất nhẹ bằng da và vải. Hắn có thể chuyển động mà không gây ra một âm thanh nào. Tất cả những món đồ lặt vặt quanh đây chẳng bõ cho hắn mang theo, đằng nào hắn cũng chỉ lôi chúng lên thuyền cho mục đích ngụy trang. Toàn đồ chẳng mấy giá trị. Thoáng nhẩm lại, gã đàn ông tin chắc hắn hành động đúng và thời điểm này là lúc ra tay thực hiện kế hoạch. Chỉ chờ thêm vài tiếng đồng hồ nữa thôi, có thể mọi việc đã trở thành quá muộn.
Căn phòng hẹp, đầy những người ngủ và rất u tối, mặc dù có hai ngọn đèn cháy ở khoảng tường trước mặt.
Gã đàn ông bò trên cả tứ chi. Cách ra cửa tốt nhất là chịu khó chui xuống bên dưới những chiếc võng. Chúng treo trên đầu hắn như những tấm lưới nặng nề. Gã đàn ông nghe âm thanh của những người đang ngủ. Nhiều cái võng đã oằn xuống dưới sức nặng của người nằm, đến độ quệt cả vào tóc gã.
Con đường dẫn vào phòng chứa đồ được hai người lính canh chừng. Họ có vũ khí, thế nhưng Malraux không sợ. Xử lý hai người này là chuyện dễ dàng. Hắn lại có lợi thế là đã quen biết họ trong mấy ngày qua.
Con tàu chòng chành chầm chậm bước theo những đợt sóng dài. Gã đàn ông có mái tóc đen và bộ ria lởm chởm lẹ làng chuyển động theo nhịp sóng. Không khí thật ngột ngạt. Cả gương mặt và toàn bộ cơ thể hắn bây giờ phủ một lớp mồ hôi rất dày. Gã cũng bốc mùi chẳng khác gì những người đàn ông đang ngủ kia.
Gã bò về phía cửa.
Tới bên ngưỡng cửa, gã đàn ông đứng lên, chạy đến bên một cửa sổ nhỏ, ném một cái nhìn về hướng Bắc – hướng đó là bờ biển nước Pháp.
Gã chưa nhìn thấy nó, nhưng gã có thể linh cảm ra nó, bởi có những đường viền mờ mờ đang hiện lên dưới ánh mặt trời gay gắt. Gã sẽ dễ dàng vượt qua được khoảng cách này, nó hoàn toàn chẳng thành vấn đề đối với người bơi giỏi như gã. Ngoài ra, hướng sóng cũng đang đổ về biển và đang có một cơn gió nhè nhẹ thổi tới từ hướng Nam. Những kẻ khéo léo như gã có thể để cho sóng mang mình lên, và thậm chí còn nghỉ ngơi trong khi bơi.
Mọi việc diễn ra trôi chảy. Khi cẩn thận mở cánh cửa ra, hắn chẳng nhìn thấy người lính gác nào. Cửa gỗ có kêu lên cọt kẹt đó, nhưng chắc đám đàn ông đã quá mệt trong một ca gác quá dài.
Hắn lẻn ra ngoài.
Ngay lập tức, hắn cảm nhận được một luồn gió thổi thẳng vào mặt. Nó thoáng và lạnh hơn, gây cảm giác dễ chịu, nhưng vẫn chưa đủ mạnh để xua khô lớp mồ hôi dày trên mặt hắn.
Từ bên trên, ánh nắng len lỏi qua những kẻ hở trên những tấm ván, rọi vào không gian trong bụng chiếc tàu buồm và vẽ lên trên mặt đất bẩn thỉu những hình ngoằn ngoèo sáng màu, nơi có vô vàn hạt bụi nhỏ đang nhảy múa.
Gã đàn ông biết gã phải đi về đâu. Những ngăn kho lớn nằm ở giữa và đuôi con tàu. Nơi gã muốn tới là một phòng nhỏ nằm ở dãy kho đầu.
Con tàu đã được tạo dựng rất tiện lợi. Ở giữa có một lối đi chia phía dưới boong tàu ra làm hai nửa. Bên phải và bên trái là những dãy nhà kho chất đầy hàng.
Trước khi ra tới được lối đi ở giữa đó, gã đàn ông phải mở thêm một cánh cửa khác. Cánh cửa này gắn vào một vách ngăn ngang và đằng sau cánh cửa có hai người lính gác đang ngồi.
Gã biết rõ như vậy. Gã đã chuẩn bị thông tin từ trước. Tình hình hôm nay chắc chắn cũng sẽ như thế.
Malraux cất bước đi. Lẹ làng khéo léo như một tên ăn trộm. Hắn không mang vũ khí, nhưng đôi bàn tay với những ngón tay ngắn khỏe không ngừng chuyển động. Không được để cho chúng trở thành đờ đẫn, dại khờ! Những người dân ở xứ Osmanen đã dạy cho hắn một số mánh khóe, có thể dùng tay trần bóp chết người.
Bầu không khí u ám trong bụng con tàu như một làn khói cô đặc. Một bầu không khí không bao giờ thật sự yên lặng. Mặc dù hắn không nghe thấy tiếng bước chân người, nhưng tiếng sóng vỗ không ngừng vào vách gỗ tạo nên một nền âm thanh luôn hiện hữu. Cả những ván gỗ thật ra cũng luôn phát âm thanh và chuyển động. Chúng rên rỉ như những tù nhân. Đứng ở đây, gã không nghe thấy tiếng reo ù ù của cánh buồm, tiếng thổi phần phật của vải, vốn được một số người coi là bí hiểm. Chỉ thỉnh thoảng gã mới nhận ra âm thanh trầm **c của những bước chân chạy trên boong. Thỉnh thoảng hắn lại nghe tiếng ra lệnh vẳng nhẹ từ bên trên xuống, hoặc một tiếng thét, một câu chửi rủa. Thế thôi.
Có cái gì vút qua mặt hắn như một bàn tay hết sức dịu dàng. Đó là đám lưới nhện đang phủ lòng thòng từ trên trần phòng xuống. Nhện ở đây không lo chết đói. Thỉnh thoảng lại có những con ruồi béo phì sa vào lưới.
Đến bên buồng gác, Malraux dừng chân. Hắn biết hắn chỉ có một mình, mặc dù vậy hắn vẫn cẩn thận nhìn quanh. Gã đàn ông không phát hiện ra ai. Gã cũng không nghe thấy âm thanh nào khả nghi. Trong một góc phòng có những cây bạch lạp đang cháy. Chúng chảy ra, trông như những khúc xương da trắng đã bị vứt đi.
Đằng sau vách ngăn ngang là hai người lính gác. Đó không phải là thủy thủ, mà là những người lính được thuê về đây. Họ không quan tâm tới chuyện các giáo phái và họ chỉ chấp nhận tiền lương bằng vàng. Trong phòng họ ngồi bây giờ không tối hẳn, bởi ánh sáng đang lọt vào qua những khe hở nhỏ trên những vách gỗ. Mặc dù vậy, căn phòng vẫn gây ấn tượng rất u ám, như đang có vô vàn những bóng đêm nhảy múa trên nền phòng.
Malraux gõ cửa.
Gã không gõ chậm hay gõ khẽ. Gã đập thật mạnh cả nắm đấm vào cánh cửa gỗ, đòi hỏi, yêu cầu, để hai người lính trong kia biết có người đang muốn vào trong.
Đầu tiên, không có phản ứng. Thế rồi hắn nghe thấy một tiếng động. Thanh chắn bằng gỗ ở phía trong được kéo sang bên. Cánh cửa mở. Nó vừa mở vừa kêu lên một tiếng kêu tởm lợm khiến Malraux nổi da gà. Quầng sáng của một ngọn đèn dầu chiếu vào hắn, người lính gác đang giơ cao cây đèn, giơ thẳng lên trên đầu khiến những bóng đèn phủ lên mặt anh ta.
Malraux không nhìn thấy mặt người lính gác bởi nó đã chìm xuống trong cái hỗn hợp giữa bóng đen và ánh đèn. Nhưng hắn nghe được giọng anh ta.
- Anh muốn gì?
- Tôi phải nói chuyện với các anh.
- Thế thì nói đi.
- Không phải ở đây. Đừng để cho ai nghe thấy tiếng chúng ta. Chúng ta… ta phải nói chuyện riêng.
- Tại sao?
Người lái tàu cử tôi xuống. Anh ấy… anh ấy có một thông điệp gửi riêng cho hai anh. Mọi việc đã được thống nhất với thuyền trưởng. Vàng, rất nhiều vàng. Kể cả những đồ nữ trang quý giá.
Người đàn ông chần chừ. Malraux nghe thấy tiếng anh thở. Cả hai khái niệm “vàng và đồ nữ trang” luôn dễ dàng khiến cho những tên lính đánh thuê dỏng tai lên. Họ không biết những cái hòm kia đang chứa những gì. Họ chỉ nhận nhiệm vụ canh giữ chúng, tất cả những chuyện khác họ không quan tâm tới.
- Vào đi!
Người lính gác thứ hai lên tiếng. Anh ta ngồi bên một chiếc ghế thấp, ở phía bên kia quầng sáng nên Malraux không nhìn ra anh ta.
- Có chuyện gì? – Anh ta hỏi.
- Anh này mang thông tin lại.
- Của ai?
- Của người lái thuyền. – Malraux nói nhanh. – Chuyện này dính dáng đến rất nhiều vàng, có lẽ nên cân nhắc.
Giờ thì người lính gác thứ hai cũng đứng dậy. Nỗi tham lam lóe sáng trên con mắt. Cả hai người đã bỏ mũ xuống, tấm khiên che ngực cũng vậy. Không khí trong lòng thuyền quá nóng, họ đã cởi chúng ta cho thoải mái.
- Nói cho tôi nghe đi. – Tên lính có vẻ háo hức.
Malraux vẫn còn chờ đợi. Họ có hai người. Gã phải tìm cách phân tán tư tưởng họ. Mà họ lại đang mang vũ khí. Những lưỡi giáo của họ ánh lên trong ánh sáng của lưỡi lửa bập bùng từ đĩa dầu.
Gã đàn ông thè lưỡi liếm môi, xin một ngụm nước.
- Chúng tôi không có. – Một tên nói.
- Có chứ, tôi biết là…
- Cho nó đi! – Người đàn ông đã mở cửa ban nãy vụt nói.
- Tùy anh.
Người đàn ông thứ hai bước vào phần trong của căn phòng tăm tối. Chỉ còn một người ở lại.
Malraux mỉm cười. Người đàn ông đó đứng bên cạnh gã, mũi giáo đang chỉa xuống đất. Kẻ lẻn vào chờ thời điểm thích hợp. Khi nghe thấy tiếng nước chảy, hắn biết là bây giờ nước từ trong một thùng rất lớn đang được chia sang thùng nhỏ.
Gã ra đòn nhanh hơn chớp.
Người lính gác hoàn toàn bất ngờ khi một khuỷu tay cứng như đá thúc mạnh vào giữa thân thể anh. Anh gục xuống, cảm giác khó chịu trào lên, khiến anh không kịp kêu ngay lập tức. Anh ngã người về phía trước.
Malraux chỉ chờ có vậy. Gã đấm hai lần vào gáy người đàn ông.
Người lính gác xỉu xuống. Malraux đã giành lấy cái giáo trong tay anh.
Gã đàn ông lại mỉm cười lạnh lùng đi về phía trước, đến gần bóng tối.
Tiếng bước chân vang lên. Người lính gác thứ hai quay trở lại. Chắc chắn anh ta đang cầm một bình đầy nước. Anh ta không mang vũ khí, và không biết là Malraux đang chờ cho tới lúc nhìn thấy hình dáng anh hiện ra trong quầng tối.
Gã lấy đà, và phóng cây giáo nặng.
Người lính gác hoàn toàn bị bất ngờ. Malraux không nhìn được rõ chi tiết. Gã chỉ nhìn thấy dáng người đó còn giật sang bên trái rồi sang bên phải một thoáng trong bóng tối, cái bình đựng nước đập xuống dưới đất. Thế rồi cả thân hình người đàn ông cũng đập xuống. Kêu lên một tiếng trầm **c, thân người đó giáng xuống nền phòng rồi không động đậy nữa.
Malraux hài lòng. Gã đã chuẩn bị rất tốt và bây giờ gã biết rất chính xác, gã có thể tìm phòng đựng đồ vật ở chỗ nào. Những cánh cửa thậm chí không được đảm bảo bằng khóa hay dây xích. Hắn chỉ cần dùng một thân gỗ nặng và đẩy chúng sang bên.
Sau khi đã làm việc đó xong, gã quay trở lại, lấy cây đèn dầu. Gã không quan tâm đến xác chết, mà cũng chẳng thèm ném một cái nhìn xuống thân người đang ngất.
Người đàn ông không động đậy.
Malraux đoán chắc, bây giờ gã sẽ không bị ai cản trở. Gã đang rất hồi hộp. Đôi môi gã run rẩy, hai đầu gối như đang mềm ra khi bước vào căn phòng chứa châu báu, đặt cây đèn sang một bên, lấy một hơi thật sâu và đưa mắt nhìn quanh.
Nó có ở đây không?
Có!
Cái hòm đó ở ngay bên cạnh hắn. Gã đàn ông thì thào:
- Giờ thì ta sẽ ra tay…

Chương 2

Cái hòm này trông không giống những cái hòm khác, thường mang hình dáng rương đựng đồ. Cái hòm này nhắc người ta nhớ tới một chiếc quan tài, và hình dạng đó có nguyên do riêng của nó.
Malraux không đến đây tay không. Hắn đã dắt sẵn vào lưng quần một khúc gậy sắt buộc vào một sợi dây. Gã rút gậy sắt ra. Trong ánh sáng của ngọn đèn dầu, gã nhìn cái đầu đã bị đập dẹp ra của khúc gậy và tỏ vẻ hài lòng.
Nó sẽ giúp gã dễ dàng cạy nắp quan tài.
Hắn quan sát nắp chiếc quan tài. Kẽ hở của nó và phần bên dưới trông rất rõ. Đây là nơi phải thúc gậy sắt vào. Gã thử một vài lần và sung sướng vô cùng khi nghe tiếng gãy nho nhỏ, cho biết gỗ ở một vài nơi đã bung ra. Hắn cầm gậy sắt bằng cả hai bàn tay,dồn sức lực và cuối cùng cạy được cái nắp hòm bật ra không quá khó khăn.
Tất cả đều trôi chảy.
Gã đổ mồ hôi vì làm việc thật tập trung và cái mùi chua chua của gã trộn với mùi máu chảy ra từ vết thương rất sâu trên ngực người lính đã chết. Máu đã tạo thành một vũng rất rộng quanh anh ta, nó trở thành nơi mời gọi những con ruồi béo phì đang hả hê kéo tới.
Gã đàn ông nghiến răng làm việc tiếp, gã buộc miệng nguyền rủa khi thấy nắp hòm dù đã nhích ra một chút, nhưng cúng hơn hắn tưởng.
Cuối cùng, việc cũng hoàn tất. Gã cầm vào nắp hòm bằng cả hai tay và có thể nâng nó lên cao.
Nắp hòm từ từ mở ra.
Thành công!
Gã không nhìn được nhiều. Gã thở hổn hển không rõ vì hồi hộp hay vì mệt, gã bước sang bên và cầm cây đèn dầu lên. Gã đưa cây đèn dầu lại gần cái hòm, di chuyển nó dọc theo phần cuối hòm.
Ánh sáng tỏa xuống dưới, và chiếu lên một hình người. Đầu tiên, nó khiến Malraux không khỏi bị sốc.
Đó chưa hoàn toàn là một bộ xương người. Có những chỗ phơi ra xương trần nhợt nhạt trắng xám, như thể vừa được kỳ cọ, đánh bóng kỹ càng. Nhưng một số chỗ khác vẫn còn thịt và những mẩu da sót lại, bám vào xương, đặc biệt ở phần ngang vai và phần đùi trông cực kỳ ghê rợn.
Đã vậy cả những phần thịt này cũng đã thối rửa ra, ngả một màu xám như tro và chắc chắn chẳng bao lâu nữa cũng sẽ rụng hết ra.
Gã không quan tâm đến điều đó. Thứ duy nhất mà Malraux để ý tới là cái dáng người chưa mục hết này đeo vật gì bên mình.
Dây thắt lưng chưa bị mục. Nó được làm bằng da, và ở phía bên phải nó, Malraux nhìn thấy một chiếc bao đựng dao găm. Phần dưới dao đang thò ra bên ống xương nhợt nhạt. Gã không quan tâm đến bao da. Điều duy nhất quan trọng là cái gì đang thò cán ra khỏi cái bao này.
Đó là một con dao găm, cán của nó được quấn rất kỹ bằng một loại băng vải.
Khi Malraux đưa tay đến gần con dao, những ngón tay của gã run rất mạnh. Cổ họng gã nghẹn thắt, hai con mắt sáng rực lên như trong cơn sốt. Đã biết bao nhiêu năm nay gã chờ đợi giây phút này. Ước mơ quá lớn, không thể không hồi hộp.
Đây là mục tiêu tối thượng cho mọi mong ước của gã!
Gã đàn ông sờ vào cán dao. Băng vải quấn quanh cán gây cảm giác mềm mại. Nó uốn tựa vào lòng bàn tay gã, như thể nó được làm riêng cho gã.
Một nụ cười hiện lên trên đôi môi khô cứng và rạn nứt. Bằng một cử chỉ vội vàng, gã đàn ông rút món vũ khí ra khỏi cái bao đựng bằng da đã rạn.
Gã quan sát lưỡi dao. Trong ánh sáng của ngọn đèn dầu, nó gây ấn tượng như đang được phủ một lớp mỏng bằng máu. Lưỡi dao như đang sống, đang chuyển động, đang gửi thông điệp. Malraux lấy hơi thật sâu, xoay lưỡi dao rồi ép nó một thoáng lên môi mình.
Gã thấy thật dễ chịu, khi cảm nhận lưỡi thép đó, như thể nó đang thổ sức sống vào người gã.
Malraux lại hít một hơi thật sâu.
Gã hoàn toàn không đếm xỉa đến những rương đựng đồ và những chiếc hòm khác nằm trong phòng. Dĩ nhiên gã có thể dễ dàng mở một trong những chiếc hòm đó ra và vơ vét không biết bao nhiêu đồ quý giá nằm trong, nhưng chuyện đó cũng sẽ cướp đi của hắn những phút giây quí báu. Gã đàn ông đang muốn biến mất càng nhanh càng tốt. Gã muốn lên trên boong tàu, nhảy xuống nước và bơi vào bờ. Ngay cả khi bọn người kia có phát hiện ra gã, chuyện chắc chắn sẽ xảy ra, thì cũng sẽ không một kẻ nào có thể truy đuổi được gã. Chúng không thể làm điều đó được. Chúng phải đến Marseile càng nhanh càng tốt.
Gã cất con dao găm bên dưới cái quần cũ kỹ đã có giấu sẵn một bao dao, được làm rất tỉ mỉ cho chính món vũ khí này.
Malraux tỏ vẻ hài lòng.Việc còn lại của gã bây giờ chỉ là biến mất cho thật nhanh. Nhưng gã cũng phải cẩn thận, không được tỏ ra quá vội vàng. Đừng khinh suất! Nếu không mọi việc sẽ thành uổng phí.
Gã xoay người ra khỏi hòm chứa đồ.
Con tàu vẫn tiếp tục phăng phăng đi theo hướng định trước. Nó lướt trên đầu những con sóng rất dài, chuyển động nhẹ nhàng như đã biến thành một con chim.
Cũng có thể Malraux có cảm giác như vậy, bởi gã đang tiến gần thành công. Cảm giác đến mục tiêu mọi ước mơ của mình thật tuyệt vời, chỉ còn vài bước chân nữa là gã sẽ đến với chiến thắng chung cuộc.
Những con ruồi nặng nề bóng nhảy vo ve quanh xác chết. Chúng đậu cả xuống vũng máu, bây giờ đã được phủ một lớp màu thẫm bên trên. Gã đàn ông xoay người sang trái. Một tay của hắn đang cầm cây đèn dầu. Cây đèn chuyển động theo những nhịp chân hắn. Nó ném những vệt tối như những con ma u ám lên tường và xuống nền phòng, những con ma thật thích hợp với khung cảnh chết ***c xung quanh.
Người đang ngất nằm gần cửa ra vào. Malraux cân nhắc xem có nên giết cả người lính canh này hay không, nhưng rồi hắn bỏ ý định. Chẳng bao lâu người ta cũng sẽ biết ai là kẻ ra tay giết ***c và cướp đồ vật ở đây. Chẳng cần phải để lại thêm một xác chết thứ hai.
Gã bước qua thân người bất động. Đúng lúc muốn bước tiếp tới cửa dẫn ra ngoài thì gã nghe thấy một tiếng động thật khẽ. Malraux quay người lại. Nhưng…
Muộn rồi!
Một bàn tay đã nhanh như chớp tóm lấy cổ chân gã. Tóm rất mạnh và rất chặt, khiến Malraux kêu lên. Không bước tiếp được, gã ngã người sang bên, chiếc đèn rơi xuống nền phòng, vỡ toang.
Dầu chảy ra ngoài.
Những lưỡi lửa xuất hiện, tham lam như những ngón tay kẻ cắp. Lửa phụt thẳng vào vũng dầu.
Có tiếng gào nhẹ.
Thế rồi đám lửa bùng ra, bốc lên cao. Nó phun ra phì phì, nó nhuộm một màu đỏ ***i, bí hiểm và ma quái. Malraux nhìn thấy người vừa ngất nay đang chuyển động mà không buông chân hắn ra. Anh ta muốn bám vào hắn, lấy chỗ kéo để đẩy người lên. Anh ta vẫn còn chưa hết choáng váng, ánh mắt còn đờ đẫn, miệng và mặt nhăn nhúm.
Tình thế báo hiệu một kết cục u ám.
Ngọn lửa mỗi lúc một ngoạm thêm nguyên liệu. Chỉ còn vài phút nữa thôi, nó sẽ lan rộng qua xung quanh. Ngay bây giờ đã có một luồng khói gay gắt bốc lên cao, khiến đôi mắt của người lính gác chảy nước.
Malraux không dùng cây dao găm, mà nắm bàn tay trái lại thành quả đấm. Gã đàn ông ra đòn vô cùng tàn bạo.
Nắm đấm bay thẳng vào đầu người đối diện. Lần này, gã đấm ba cú liên tiếp. Lực bám vào cổ chân hắn lỏng ra. Thế rồi bàn tay trượt xuống, người lính gác lại ngã đập xuống mặt phòng, lăn người một vài vòng nhảy nhót trên nền gỗ.
Malraux đứng bật dậy.
Gã thừa hiểu, gã không còn thời gian để dập tắt đám cháy. Ngọn lửa có quá đủ con mồi quanh đây và chẳng bao lâu, nó sẽ biến cả con tàu thành địa ngục lửa.
Cho tới lúc đó, gã phải rời khỏi boong tàu.
Họ ngập ngụa, mắt trào nước, gã đàn ông leo ra khỏi phòng. Gã đi lảo đảo trên hành lang, thỉnh thoảng đập người vào vách tường, giơ tay sờ cán dao găm và vui vẻ khi biết rằng món vũ khí vẫn còn nguyên vẹn bên người hắn. Chắc chắn nó sẽ bảo vệ cho hắn.
Gã phải lên được boong tàu càng nhanh càng tốt, trước khi có người nhận ra đám cháy. Làn khói gay gắt bây giờ đã cuộn sang nơi khác. Gã đàn ông không nghĩ đến chuyện đánh thức những người đang ngủ. Gã để mặc kệ cho họ xoay trở với tình huống bất ngờ.
Malraux lao người qua một cánh cửa thấp. Đi đến boong, gã cúi xuống, ẩn đằng sau những cuộn dây lớn. Xung quanh hắn không có ai. Gã nghe loáng thoáng những tiếng người từ xa, trên đầu hắn là tiếng phần phật của cánh buồn trong gió. Gã cũng nghe tiếng nước đang chảy quanh mạn tàu, nó cho gã niềm hy vọng và gã lén về hướng đuôi tàu.
Thế rồi gã trèo lên được mỏm gỗ cuối đuôi tàu. Đứng trên đó và nghe thấy một tiếng kêu lảnh lót, biểu lộ tất cả những nỗi kinh hoàng khi con tàu bị cháy.
Lửa…! Cháy! Lửa!
Có ai đó giật chuông báo động.
Những tiếng kêu của nó vang lên đồng thời với bước nhảy gọn gàng của Malraux xuống dưới sâu, xuống dưới mặt nước màu xanh xám, xuống với luồng nước cuồn cuộn sáng.
Chỉ một tích tắc sau, luồng nước nuốt chửng lấy hắn. Chính xác hơn là chở che cho hắn trong vòng tay mênh mông.
Nếu có thể, gã đàn ông bây giờ sẽ cười thật lớn. Nhưng vì đang ở dưới nước, gã chỉ nghiến hai hàm răng, lòng vô cùng sung sướng.
Thật sâu, biển sâu nhưng gã có cảm giác êm đềm lạ! Gã lặn xuống dưới và bơi với những cánh tay quạt rất mạnh về hướng Bắc, về hướng bờ biển của nước Pháp. Gã phải lên được bờ biển đó và phải bước lên bờ trong một đoạn vắng người. Những đoạn vắng người như thế ở đầu này rất nhiều. Malraux không biết bao nhiêu thời gian đã trôi qua. Thiếu không khí, gã đàn ông trồi lên trên. Gã lấy hơi, tràn đầy hai lá phổi, và không quay nhìn lại, bởi mỗi giây đồng hồ bây giờ đều vô giá. Gã biết mỗi con tàu khi chìm xuống đều gây ra những vũng nước xoáy rất mạnh, kéo xuống dưới sâu tất cả những gì đang tình cờ có mặt quanh nó. Lúc đó thì kể cả những người bơi giỏi nhất cũng không còn cơ hội.
Gã bơi, rồi lại ngẩng lên lấy hơi, rồi lại tiếp tục bơi, và tới một lúc nào đó, Malraux dừng lại ở mặt nước bên trên.
Lúc bấy giờ gã mới quay đầu nhìn lại.
Nằm dài theo dọc luồng nước, gã nhìn về hướng sau.
Gã nhìn thấy chiếc tàu buồm.
Trên đầu nó bây giờ là một đám mây khói đặc kịt, tỏa rộng ra xung quanh. Trong lòng đám mây nhảy nhót vô vàn những lưỡi màu đỏ thẫm đang trèo lên cánh buồm. Con tàu bây giờ đã nghiêng về hướng sau và sang bên trái. Chẳng bao lâu nữa, nó sẽ chìm xuống nước.
Gã đàn ông bật cười.
Gã cười như chưa bao giờ cười trong cuộc đời của gã, cho tới khi một làn sóng chạy ngang phủ xuống đầu gã, bóp nghẹt tiếng cười. Gã đàn ông bơi tiếp.
Bây giờ thì gã biết rõ là gã sẽ đến được mục tiêu của mình.
Gã sẽ đến được bờ biển và chẳng bao lâu nữa gã sẽ thuộc vào một trong những kẻ quyền thế của đất nước này.
Con dao găm sẽ mang lại cho gã quyền lực đó…
nvdtdnguyen
21-02-2007, 07:44 PM
Chương 3

Malraux quả đã bơi được vào đất liền và đi lên bờ. Đối với gã, đó là một ngày tuyệt vời. Sóng biển gần bờ không đến nỗi quá mạnh, gã có thể bơi vòng tránh những dãy núi đá có thể gây nguy hiểm. Tới nơi, gã nằm thật lâu trên nền cát mềm mại cho đến khi mặt trời ngả đầu về hướng Tây và cuối cùng, biến mất trong mặt nước biển.
Malraux không biết chính xác gã đã bơi cụ thể vào địa phương nào. Nhưng gã biết, dọc khúc bờ biển này của nước Pháp có rất nhiều khu dân cư và nhiều làng chài nho nhỏ. Ở đó gã cũng sẽ kiếm được chút gì để ăn. Gã đàn ông nghĩ như vậy và lên đường. Không khí không còn quá nóng như lúc ban trưa.
Gã tiến tương đối nhanh. Những vách núi đá vẫn còn tỏa ra một chút hơi nóng mà chúng thu lượm được trong ngày, đã khiến cho cơn khát trong hắn dâng lên. Ở đây không có nguồn nước, kể cả mảng thực vật cũng sơ sài. Nhưng đi thêm chút nữa, gã thấy hiện ra những túp lều, những ngôi nhà đầu tiên. Một khu dân cư nho nhỏ, nằm lọt thỏm trong một cái vịnh. Nơi sinh sống của dân đánh cá.
Gã lẻn vào ngôi làng.
Gã tìm được nước. Gã nhìn thấy một cái giếng bên cạnh một ngôi nhà. Trên thành giếng có để một cái gàu bằng gỗ. Gàu đầy nước, gã đàn ông cúi xuống, uống thỏa thê.
Có ai đó bước tới.
Đó là một người đàn ông già nua, dáng điệu hiền lành. Ông ta gật đầu với gã.
- Anh từ xa tới đây phải không?
- Vâng.
Người đàn ông ấy quan sát hắn bằng vẻ kiểm tra, nhưng không nói gì. Malraux không thích bị nhìn bằng ánh mắt như vậy. Hắn đã muốn quay lưng đi thì ông già lên tiếng mời hắn vào nhà ông.
- Ông có phải là dân đánh cá không? – Malraux hỏi cố giữ lễ phép.
- Có thể nói như vậy.
- Tôi vào nhà ông để làm gì?
- Anh không muốn ăn gì hả?
- Có chứ. – Gã đáp vẻ mừng rỡ, bởi vì gã đang đói.
- Thế thì vào đây.
Ngôi nhà được xây bằng những hòn đá sáng màu. Nó chật chội và tối tăm, bởi những khoảng hở nhỏ trên tường chẳng có ánh sáng lọt vào. Malraux thấy rất dễ chịu với không khí lành lạnh trong nhà, cũng như với luồng sáng tỏa ra từ những cây nến đặt trong một chiếc đĩa gỗ để giữa bàn.
Ông già ngồi đối diện với hắn và nhăn một vài lần sóng mũi cong cong của mình.
- Anh bốc lên mùi muối và nước, mặc dù người anh đang khô. Anh bơi từ biển vào đây hả?
- Vâng.
- Anh bơi rất lâu phải không?
- Vâng. – Hắn luôn muốn tiết kiệm lời nói.
- Tôi đã nhìn thấy khói bốc lên từ biển khi tôi đứng trên một vách đá. Có phải thuyền của anh bị cháy không?
- Vâng.
Người đàn ông tóc bạc mỉm cười, đứng dậy và bước đến gần một chiếc giá bằng gỗ.
- Anh muốn ăn phải không?
- Ông có gì nào?
- Cá. Cá khô. Được phơi giòn dưới ánh nắng mặt trời. Tôi cũng có bánh mì và rượu vang.
- Vâng, thế thì tốt.
Người đàn ông già nua phục vụ hắn. Ông ta làm điều đó với một vẻ tự nhiên khiến Malraux phải kinh ngạc. Vì không quen với kiểu hiếu khách như vậy, gã đàn ông đâm nghi ngờ và cẩn trọng. Hắn không muốn bị rơi vào một sự ngạc nhiên độc ác.
- Chúc anh ăn ngon miệng!
- Cảm ơn.
Cá rất ngon, không mặn quá, và rượu vang thì hơi lành lạnh, khiến cổ họng và dạ dày Malraux mừng vui. Gã mừng vui vì mọi thứ đã nằm lại sau lưng, nhưng gã không chịu được ánh mắt quan sát của ông già. Khuôn mặt ông đang nhảy nhót và méo mó một cách lạ kỳ đằng sau ánh nến.
Gã vẫn chưa tin tưởng ông già.
- Cho tôi thêm chút nước được không?
- Cả rượu vang nữa chứ.
- Không, chỉ nước thôi.
Ông già gật đầu, đứng dậy và bước ra hướng ngoài. Malraux không nghe thấy ông ta làm gì ngoài đó. Chỉ tới khi nghe tiếng rít của dây thừng bên giếng và tiếng cọt kẹt của gỗ vang lên, gã mới thở ra hài lòng. Với một can đầy nước trong tay, người đàn ông tóc trắng quay trở lại.
- Ông sống một mình sao? – Malraux hỏi.
- Chẳng phải bao giờ cũng một mình.
- Thế còn ai sống trong nhà ông nữa?
- Lần thì người này, lần thì người nọ. – Ông ta đổ nước từ can vào cốc.
Malraux uống. Nước lạnh làm mát từng tế bào cơ thể khiến hắn tỉnh cả người.
- Nhưng ông không phải là dân đánh cá?
- Tại sao không?
- Tôi quen nhiều dân chài. Ở ngoài kia đã bắt đầu tối rồi. Bây giờ là lúc người ta sửa soạn lưới.
- Tôi già quá rồi.
Ông già lại ngồi xuống, và nét mặt của ông nhợt nhạt đằng sau ánh nến. Khi đặt thêm một câu hỏi nữa, ông chủ nhà khiến khách suýt nghẹn.
- Anh có phải dân Templer không? Anh là một người trong số họ hả?
Malraux im lặng. Gã uống và ăn con cá cuối cùng. Ông chủ nhà để cho hắn thời gian suy nghĩ, rồi sau đó mới nhắc lại câu hỏi, tới lúc đó Malraux mới phản ứng.
- Tại sao tôi phải là một người của dòng đạo Templer?
- Bây giờ người ta rất hay gặp họ. Họ đang bị truy đuổi như những con thú. Người ta đang bám sát lấy chân họ. Cả nhà thờ Thiên Chúa giáo, kể cả mật thám của nhà vua cho đến Giáo hoàng cũng đã đưa ra những đội quân riêng. Người ta sẽ tóm lấy họ, sẽ ném họ vào nhà tù và tra tấn.
- Tôi biết.
- Anh có phải là người của dòng đạo Templer không? – Ông già cương quyết hỏi. Một phần những từ ngữ của ông có vẻ như đang bị những lưỡi lửa nến nuốt chửng.
Malraux muốn nhận ra ánh mắt rình mò hiểm độc trong giọng nói đó, nhưng gã không tìm được.
- Ông sẽ làm gì nếu gặp một người của dòng đạo Templer?
- Tôi chưa rõ.
- Ông có giao nộp anh ta không?
- Không! – Ông già lắc đầu. – Đầu tiên tôi sẽ thử tìm hiểu. Nếu anh ta là một người tốt thì tôi sẽ che giấu cho anh ta. Nếu anh ta là một con quỷ thì tôi sẽ thả anh ta ra cho bọn người truy đuổi. Anh thấy đấy, tôi là người trung thực. Giờ thì anh có thể nói ra sự thật.
Malraux nheo hai con mắt lại.
- Đối với ông cái gì là tốt, cái gì là xấu? Ông làm cách nào mà biết được?
- Một số người vốn theo đạo Templer nay đã biến đổi niềm tin vào đạo giáo của họ. Như thế là không tốt, bởi bây giờ thì họ phục vụ cho quỷ dữ. Cũng có thể họ không còn cơ hội khác, bởi họ bị bỏ rơi. Điều đó có thể xảy ra. Người ta luôn phải tính đến trường hợp đó, đúng không?
- Tôi không phải là người của dòng đạo Templer. – Gã quyết định phải nói như vậy. – Thế nhưng ông biết nhiều về họ ư?
- Đúng, những ai đã trở nên già nua như tôi, người đó đã từng trải qua rất nhiều sự kiện. Người đó nhìn thấy nhiều thứ và họ thường chẳng được những người trẻ tuổi hơn cao trọng. Thế nhưng những người tuổi trẻ tuổi đó quên rằng kể cả người già cũng có mắt để nhìn và tai để nghe. Và cùng với tuổi già, họ có một sự khôn ngoan nhất định mà những người trẻ tuổi không có được. Tất cả những ai cười giễu một người già nên nghĩ tới những điều đó. Tôi biết rồi thế nào cũng có chuyện xảy ra, để thống nhất, họ đã từ lâu chia ra làm hai phe. Nhưng tôi cũng biết người ta không thể hủy diệt được họ, bởi họ sẽ luôn luôn tìm cách tụ hội lại với nhau, tạo thành một cách liên hợp mạnh mẽ.
- Ông có phải là phù thủy không?
Ông già lắc đầu.
- Tôi chỉ là một người khôn ngoan, anh bạn trẻ ạ. Chỉ khôn ngoan thôi…
Đột ngột, Malraux cảm thấy bối rối và kinh hãi trước người đàn ông. Gã không biết gã phải xử trí như thế nào. Gã phải ở lại đây hoặc là biến đi? Phải đấm gục ông già xuống, phải giết ông ta để xóa đi một dấu vết? Hay là gã cứ đơn giản để sự kiện xảy ra và tiếp tục thử thách ông già thêm một lúc nữa?
- Những ý nghĩ anh đang có trong đầu là không tốt đâu, anh bạn trẻ. Hãy nghe lời tôi, chúng không mang lại lợi ích gì.
- Ông biết thế thật sao? – Gã gần như rúng động.
- Đúng, sự khôn ngoan mách bảo cho tôi như vậy. – Ông già vẫn cứ giữ cái giọng đều đều.
- Thế thì nói cho tôi biết, tôi là ai.
- Anh đang trên đường chạy trốn. Anh đã làm một điều gì đó, có thể là một chuyện hết sức quan trọng và quyết định đối với khoảng đời trước mắt của anh.
- Tôi đã làm gì?
- Nếu anh không tự kể cho tôi, thì tôi cũng không biết đâu. Tôi không phải là phù thủy.
Malraux gật đầu. Thế rồi gã mỉm cười, cân nhắc, và cuối cùng ra quyết định. Gã đưa bàn tay phải lên cái cán được quấn vải của con dao găm, nhưng chưa rút hẳn vũ khi ra khỏi bao. Thay vào đó gã nói:
- Bây giờ tôi sẽ chỉ cho ông một vật điều mà ông nên coi là một bằng chứng của lòng tin. Nếu ông thật sự khôn ngoan và biết rất nhiều, chắc chắn ông đã nghe nói đến chuyện này rồi. Đúng, tôi tin chắc như vậy.
Trước khi ông già kịp phản ứng, Malraux đã rút cây dao găm ra và đặt nó trên bàn.
Bây giờ nó nằm đó. Được ôm ấp bởi ánh sáng của những ngọn nến, khiến cho những đường nét của nó mềm ra, cứ như thể nó có thể tan chảy ra bất cứ lúc nào. Nhưng nó vẫn nằm lại và ông già bị lay động mạnh mẽ đến mức ông bất giác lắc đầu. Ông giơ hai cánh tay lên, áp chặt hai bàn tay vào hai bên má và những thớ thịt phủ làn râu màu trắng của ông giần giật. Đồng thời, răng ông đánh lập cập vào nhau. Cơn ớn lạnh tóm chặt lấy ông, như bị bao vây bởi một nhà giam và Malraux e rằng hắn vừa phạm một sai lầm khủng khiếp.
- Ông sao thế?
Ông già không nghe thấy lời hắn.
- Trả lời đi! – Hắn nói to.
- Không, không…
Malraux không buông tha.
- Ông biết món vũ khí này, đúng không? Chính ông đã biết nó. Chắc ông đã nhìn thấy nó một lần, ông bạn. Ông biết nó trong hoàn cảnh nào?
Phải qua một khoảng thời gian khá lâu, người đàn ông già nua mới cất lên thành tiếng. Ông ta thở nặng nề. hai con mắt anh ánh nước. Vội vàng, ông uống một vài ngụm rượu vang. Thế rồi ông hạ đầu xuống, thì thào trả lời:
- Nó là một công cụ của quỷ Satan, một dấu hiệu độc ác. Anh đã mang con quỷ vào nhà tôi. Anh đã gọi hồn nó dậy. Anh là một tay chân của địa ngục!
May mắn làm sao, ông già chỉ lào thào, thì thầm, bởi Malraux không muốn bất kỳ một ai khác nghe thấy những từ ngữ đó. Cố gắng lắm gã mới giữ được bình tĩnh, ngồi im và chỉ nở một nụ cười hiểm ác trước khi cất tiếng nói.
- Tôi vẫn chưa hiểu nó theo phương diện này. Tôi chỉ biết, con dao xuất xứ từ vương quốc của đạo Hồi. Nó có nguồn gốc từ châu Á…
- Con dao này là của hắn!
- Ai kia! – Gương mặt hắn giãn ra.
- Của quốc vương Harun El Basra. Nhóm đạo Templer đã ăn cắp nó. Nhóm đạo Templer muốn giữ con dao này. Họ biết rõ con dao này có sức mạnh như thế nào. Họ đã giấu con dao này trong quan tài của một người đã chết, đúng không?
- Ông biết nhiều đấy.
- Đúng, tôi biết nhiều. Tôi đã nghe một nhóm người nói chuyện về nó, nhưng đó là nhóm Templer thứ hai, những kẻ bây giờ quay sang phục vụ cho quỷ sứ, bọn tay chân của quỷ Satan bây giờ muốn chiếm lấy con dao, bởi con dao này bị quỷ ám. Nó là cái Ác. Người mang nó cũng sẽ là người ác. Anh ta chỉ nghĩ rằng anh ta đã điều khiển được nó, và con dao sẽ nghe lời anh ta, nhưng đó là một sự nhầm lẫn nghiêm trọng. Công cụ của quỷ dữ không bao giờ nghe lời một con người. Công cụ của quỷ dữ được làm ra cho quỷ dữ, chứ chẳng phải cho con người như chúng ta. Nó sẽ mang lại thảm họa cho chúng ta. – Ông già nói tiếp, giọng thống thiết. – Nó sẽ không mang lại may mắn cho anh đâu. Vì thế hãy nghe lời tôi khuyên. Cầm lấy nó, bước ra những vách núi ở ngoài kia, và ném nó xuống nước, ném nó xuống chỗ biển sâu nhất.
Malraux mỉm cười. Ông già muốn dùng những câu nói để cảnh báo, nhưng chỉ đạt được ở gã đàn ông này một hiệu quả ngược lại. Bây giờ gã mới thật sự quý mến món vũ khí vừa ăn cắp được. Dĩ nhiên, gã hiểu là tóm được con dao trong tay là gã sẽ đạt tới một cấp bậc quyền lực nhất định và nôn nóng muốn thử thách quyền lực đó. Gã tiếp tục mỉm cười, chuyển động bàn tay cho tới khi đặt bên mép bàn, từ từ đưa nó về hướng con dao. Bàn tay bò tới như một con rắn đang dần dần rút ngắn khoảng cách chỗ con mồi.
Ông già không nhìn thấy điều đó. Ông đang bị sốc. Ông ngồi cúi người về phía trước, chống khuỷu tay lên mặt bàn và đưa cả hai tay che mặt.
Malraux vẫn tiếp tục mỉm cười. Gã bây giờ trông giống một con quỷ hơn là con người.
Con dao găm là điều quan trọng.
Bây giờ càng quan trọng hơn lúc nào hết.
Hắn trườn bàn tay tới và đột ngột dừng lại. Nó nằm im lặng ở đó, như những móng vuốt nhợt nhạt của một người đã chết, bởi hắn cảm nhận rằng hắn không cần phải đẩy tay tới nữa. Hắn đã chạm vào vũ khí.
Malraux có cảm giác như hắn và con dao găm bây giờ đã được nối với nhau bằng một cây cầu. Một cây cầu tinh thần, mạnh mẽ đến mức độ không một kẻ nào có thể chia cắt.
Hắn và con dao găm thuộc về nhau. Ý nghĩ đó quay cuồng trong đầu óc gã đàn ông. Gã có cảm giác như một thế lực xa lạ và hoàn toàn khác biệt đang để lại cho hắn một thông điệp, nhưng thông điệp đó chưa đến được với đầu óc hắn, bởi còn quá nhiều vật trở ngại trên đường đi, những trở ngại phải được dọn dẹp.
Một khi những chướng ngại vật này bị tiêu diệt, sẽ không kẻ nào, không vật gì ngăn cản được hắn nữa.
- Mi thuộc về ta. – Gã thì thào, ông già không nghe thấy vì tiếng nức nở của ông đang to hơn giọng gã đàn ông nói. – Mi thuộc về ta, về ta chứ không phải một kẻ nào khác. Ta đã đi kiếm mi, ta đã tìm thấy mi, ta đã giải thoát cho mi và ta muốn mi chỉ nghe một mình mệnh lệnh của ta, chỉ nghe theo một mình ta. Chừng nào ta còn sống, chừng nào ta còn đủ sức mạnh để cầm mi lên, cả hai chúng ta sẽ là những chiến hữu của nhau. Ta muốn mi dẫn đường cho ta, cũng như ta muốn mi để ta dẫn đường mi. Ta muốn chúng ta tạo thành một đơn vị thống nhất, bởi chúng ta thuộc về nhau. Hai chúng ta đã đi tìm nhau, và đã tìm thấy nhau. Mi là cứu tinh của ta, và ta đã là cứu tinh của mi. – Gã đàn ông hơi cúi đầu xuống, nhìn chăm chăm vào mũi dao. Mũi dao có vẻ như biến dạng dưới ánh nến và ngày càng gây ấn tượng mạnh mẽ hơn là nó có thể chảy ra bất cứ lúc nào.
Malraux mỉm cười. Gã chỉ nhìn thấy một con dao găm đó, gã tập trung toàn nội lực vào nó và đồng thời vào một yếu tố khác.
Vào hai cái chết, vào việc giết người!
Cả hai luồng điện đó gặp nhau, bổ sung lẫn cho nhau và mạnh mẽ hơn hẳn trong lưỡi dao có pháp thuật, giải tỏa cho toàn bộ sức mạnh của nó bùng nổ ra ngoài.
Con dao chuyển động!
Người ngoài nhìn không ai hiểu được, bởi nó xoay mặc dù không có bàn tay nào chạm vào nó.
Chỉ qua sức mạnh tinh thần và sức mạnh của chính nó. Bởi nó cũng chính là chủ nhân.
Malraux nghe thấy tiếng gã cười. Không phải tiếng cười vui vẻ và tự do, mà vất vả và ngạc nhiên. Những cảnh tượng đầu tiên xuất hiện trước con mắt tinh thần của gã. Gã có cảm giác như mình là một siêu nhân đang ném được một cái nhìn vào tương lai và biết được quyền lực của bản thân.
Gã cùng món vũ khí của quỷ Satan.
Gã và cái Ác!
Những bóng tối của ánh nến nhảy nhót trong mắt gã. Trông Malraux thật độc ác, như một con quỷ đã nhập vào hình người, đang ngồi bên một cái bàn bình thường.
Gã ra lệnh đầu tiên.
- Lên cao!
Con dao phản ứng. Nó đột ngột bay dọc mặt bàn và dừng lại ở một độ cao ngang với khuôn mặt của người đàn ông già nua. Khuôn mặt đang được che sau hay bàn tay.
Con dao xoay tròn.
Nó xoay từ từ, hầu như đang ra vẻ thích thú. Có lúc nó hướng mũi dao về hướng Malraux, rồi sau đó lại xoay về hướng gã đàn ông cái cán được quấn vải. Cái cán đang kêu kên khe khẽ, như thể làn chất liệu quấn cán đang tung ra những tia lửa li ti.
Một điều kỳ diệu.
Một pháp thuật độc ác, quỷ quái, và Malraux cảm giác hắn là người bất khả chiến bại. Con dao găm này là tất cả những gì mà gã mong ước trên đời. Gã hoàn toàn không thể tưởng tượng được, đấy là một kẻ hầu người hạ tốt nhất, chung thủy nhất. Nó đơn giản có một không hai, nó tuyệt vời, nó sẽ nghe lời gã. Nó chỉ nghe theo những dòng suy nghĩ của gã và làm tất cả những gì mà gã yêu cầu.
Gã sẽ chỉ cho kẻ thù của gã biết, ai là kẻ mạnh hơn. Nhưng kẻ thù của gã hiện thời đang ở đâu?
Malraux đã biết câu trả lời, và nụ cười quái gở trên gương mặt của gã mỗi lúc một rộng hơn, một quỷ quái hơn.
Cho tới nay, gã chỉ nói chuyện lý thuyết với mình. Thế nhưng cơ hội thí nghiệm rõ ràng đang nằm trong tay gã. Gã đưa ánh mắt nhìn về người đàn ông già nua. Ông ta đã đưa gã vào nhà của mình, ông ta đã tiếp đãi gã như một vị khách, nhưng ông ta đứng về phía bên kia.
Đó là điều ngu xuẩn nhất của ông ta!
Con dao vẫn xoay tròn trong không khí. Malraux muốn nó dừng lại, gã ra lệnh đanh gọn:
- Thôi.
Món vũ khí tuân lời. Nó xoay một lần nữa, rồi dừng lại, chỉ vào cổ của người đàn ông già nua, một cần cổ được phủ bằng một lớp da mỏng, nhăn nheo, rám nắng. Cái cần cổ giật lên giật xuống cùng huyết hầu theo mỗi lần nuốt.
- Này, ông già… - Hắn cất giọng.
Ông ta không chịu nghe thấy.
Malraux cảm nhận rõ nỗi giận dữ và căm hờn ông già lớn lên trong tâm khảm hắn. Việc ông ta không nhìn gã cũng có thể coi là biểu thị sự khinh thường. Trước đây một vài giờ đồng hồ thì gã còn chịu đựng được, nhưng bây giờ thì không.
Không bao giờ nữa…
Không đời nào!
Và gã ra lệnh cho con dao găm.
- Giết!
Món vũ khí vẫn trực chỉ cái đầu nhọn của nó vào cần cổ nhăn nheo của ông già. Thế rồi nó chồm về phía trước. Malraux nghe một tiếng gừ khe khẽ khi mũi dao xé gió lướt tới. Một tích tắc sau đó, con dao đã tìm thấy mục đích, và cắm phập vào cổ họng của người đàn ông già nua.
Ông già thậm chí không kịp kêu lên một tiếng. Máu chảy tràn vào khoang miệng ông, xuất hiện những bóng tối trước mắt ông, kéo ông vào cõi chết.
Malraux ngồi trên ghế và quan sát toàn bộ cảnh tượng đó với mối quan tâm lạnh lùng. Chỉ tới khi suy luận ra những tương lai nào đang đứng trước mặt gã, Malraux mới cảm thấy sống lưng gã rởn nhẹ. Một tương lai bóng loáng, được đúc bằng vàng. Gã có thể nhảy lên mà hò reo vì mừng rỡ, nội tạng của hắn bây giờ đang chìm ngập trong những lưỡi lử hả hê.
Người đàn ông già nua ngã xuống đất và ngã ngửa.
Tiếng động kéo tên giết người ra khỏi trạng thái đờ đẫn. Gã đàn ông quỷ ám đứng dậy, đi vòng quanh bàn và nhìn xuống người đã chết.
Khi rút con dao găm ra khỏi vết thương, Malraux khích khích cười…

Chương 4

Malraux ra khỏi ngôi nhà của người đàn ông. Gã đứng trong bóng tối và tận hưởng màn trời đêm lành lạnh cùng ngọn gió đang vuốt ve mặt hắn.
Chẳng phải chỉ đêm nay thuộc về hắn, cả tương lai cũng là của hắn. Malraux bây giờ đã nắm trong tay một quyền lực và nếu hắn biết khéo léo tận dụng nó, hắn không phải chỉ có thể nhân đôi nó lên, hắn có thể nhân mười nó lên, nhân trăm nó lên. Những suy nghĩ quay cuồng trong đầu óc và gã đàn ông như sa vào một cơn say, tưởng tượng như gã đang bay lên khỏi mặt đất, bay qua những vách núi đá kia, bay ra tới biển.
Tuyệt vời! Tuyệt vời! Tuyệt vời!
Gã rời ngôi làng. Tới một lúc nào đó người ta sẽ tìm thấy xác ông già và hỏi kẻ nào là thủ phạm? Nhưng điều đó không khiến gã băn khoăn, bởi không một ai nhìn thấy gã. Không một câu trả lời nào đúng cả.
Sau bữa ăn, gã cảm thấy mình đã khỏe trở lại, bất chấp những cố gắng của ngày hôm trước. Gã thấy mình đủ sức để đi bộ tới một khu dân cư lớn hơn, nơi gã có thể an tâm trà trộn vào dân chúng trong thời gian đầu. Để tồn tại, hắn cần có tiền hay vàng. Gã sẽ có cả hai thứ đó dưới sự trợ giúp của con dao găm.
Con dao bây giờ là bạn gã, là đối tác, và trên con đường đi qua bóng đêm, gã vừa đi vừa luyện tập với nó.
Lần này con mồi của chúng không phải là người nữa, mà là những con thú không kịp tránh. Gã truy lùng những con thỏ, gã giết rắn, điều này khiến gã vô cùng vui mừng, bởi gã thấy con dao của gã nhiều khi chuyển động còn nhanh hôn cả loài bò sát.
Màn đêm khiến gã hứng thú.
Cứ mỗi khi đâm chết được một con thỏ, gã lại sung sướng hít vào người hơi máu nóng. Gã biết rất rõ, cái mùi này sẽ còn bám theo gã suốt đời. Năm này qua năm khác, nạn nhân này qua nạn nhân khác…
Đến khi bình minh thức dậy thì gã phải trốn tránh, bởi có một nhóm lính dạo quanh khu vực. Gã để cho nhóm lính đi qua, rồi xoay hướng bước theo họ trên một con đường nhỏ. Gã giữ khoảng cách gần, để luôn luôn nhìn thấy mùi bụi vẩn lên sau chân họ. Điều duy nhất gã quan tâm bây giờ chỉ là món vũ khí. Nó khiến gã cảm thấy mạnh mẽ, vô cùng mạnh mẽ.
Khi bình minh đã chiếu sáng bầu trời từ phía đông, gã đàn ông vẫn thấy chưa mệt mỏi. Gã có cảm giác như người vừa đủ, bởi gã vô cùng tin chắc vào việc làm của mình.
Băng qua một con suối nhỏ bằng một cây cầu cổ bằng đá, gã nhìn thấy những nóc nhà của một thành phố nhỏ nhô lên, màu trắng xen lẫn xám, rải rác
trong một thung lũng con con và trên cả triền núi. Trên triền núi có cả một nghĩa trang nhỏ. Cách chỗ gã đứng không xa, ngay bên cạnh ngọn tháp của ngôi nhà thờ là một ngôi nhà trông có vẻ rộng rãi, to lớn. Gã đàn ông chọn nó làm mục tiêu. Những người sống trong một ngôi nhà như thế này chắc chắn phải rất giàu có và hoàn toàn có thể chia sẻ một phần sự giàu có đó cho gã.
Đó là ngôi nhà của một thương gia.
Chỉ cần hỏi một vài người trong khu vực xung quanh, gã đã tìm ra điều đó. Hai giờ đồng hồ sau, gã nấp trong khoảng vườn của ngôi nhà. Khoảng vườn không phải chỉ được bảo vệ bởi những bước tường, mà có cả một vài nô lệ da đen. Họ không nhìn thấy gã, họ chỉ nhìn thấy con dao găm, nhưng ở những thời điểm quá muộn màng.
Gã đi vào trong nhà.
Gã cảm nhận một sự mát lạnh đến tuyệt vời bên trong ngôi nhà. Những khoảnh ao và những vòi phun nước ngoài vườn khiến ngôi nhà không chỉ mát dịu mà còn làm xuất hiện cả những bóng đen. Hắn biết rằng chủ nhân ngôi nhà đã sống một vài năm ở miền Trung Cận Đông và đã đưa một vài nét kiến trúc ở đó về nước Pháp.
Gã tìm thấy người đàn ông trong vườn, ông ta đang nằm dài trên một chiếc ghế sofa. Một người đàn ông béo phì với một cái bụng tròn như quả bóng, một gương mặt múp míp như mặt lợn, lơ thơ vài sợi tóc trên đầu.
Gã chơi trò mèo chuột với người đàn ông.
Gã chỉ cho ông ta biết con dao của gã có thể làm được gì. Nó không phải chỉ biết giết, nó cũng có thể gây ra những vết thương, hoàn toàn như ý của chủ nhân của nó muốn.
Vậy là ngay lập tức, Malraux trở thành giàu có.
Tên giết người rất muốn mang thêm, nhưng sức vác của hắn chỉ có hạn. Số vàng này sẽ đủ cho việc khởi đầu một tương lai mới.
Thêm một lần nữa, gã ra lệnh cho con dao găm bằng thứ giọng lạnh tanh mùi máu:
- Giết!
Nười thương gia giàu có chết với một tiếng rên nho nhỏ trên môi khi chưa kịp hiểu vì sao phải chết.
Malraux rời căn nhà, cảm giác cả thể giới đang mở ra dưới chân gã, thuộc về gã.
Và thế là gã đàn ông mang lốt quỷ biến ra khỏi miền Nam nước Pháp, lặn thật sâu. Thỉnh thoảng người ta lại tìm thấy một vài dấu vết mơ hồ của hắn, những dấu vết chỉ rất ít người trong cuộc biết đến.
nvdtdnguyen
22-02-2007, 05:52 PM
Chương 5

Bá tước Dean Ellroy đưa cả hai tay cầm lấy tấm vải phủ bằng lụa, rồi giật nó lên cao.
Trong một thoáng, miếng lụa trôi bồng bềnh như một thiên thần dang cánh trên thân hình người vợ đã chết của ông, nhợt nhạt và cứng đờ. Bà nằm trên giường ông, mặc một bộ áo ngủ bằng lụa. Ở khoảng chính giữa, ngang với tầm cao của trái tim, nền lụa hiện rõ một vết màu đỏ. Công cụ chết ***c đó đã đâm trúng bà ở chỗ này.
Tấm vải phủ xuống, tấm vải màu tang.
Nó tỏa ra, trùm lên toàn bộ thân hình của người đã chết, cứ như Eireen cần phải được xóa khỏi ký ức của người chồng.
Với những bước chân nặng nề, bá tước Dean Ellroy rời khỏi phòng ngủ. Những suy nghĩ trong đầu ông xoay quanh Eireen. Ông biết, không một ai có thể trốn tránh được số phận của mình. Cả ông cũng không…
Ông đi qua ngôi nhà, thấy nó trống vắng đến tận cùng vì không có Eireen.
Người hầu kẻ hạ đã được ông gửi đi chỗ khác. Người chồng ngồi xuống phía sau bàn viết, vùi mặt vào giữa hai bàn tay. Bá tước Dean Ellroy bật khóc, ông khóc thương cho Eireen, người đã chết thay cho ông, bởi người mà con dao đó muốn hạ thủ là chính bản thân ông. Chỉ bởi Eireen thay đổi giường ngủ trong đêm nên Thần Chết đã tóm lấy bà. Bản thân ông đến câu lạc bộ và nghỉ đêm tại đó. Eireen biết tất cả, và không nói một lời nào. Cả đời bà là người ít nói, nhưng bà yêu ông bằng tất cả trái tim, cũng như ông yêu bà vậy.
Giờ thì bà đã chết.
Bà bị giết bởi một lời nguyền rủa mà lẽ ra không được tồn tại. Bị giết bởi một thứ vũ khí có tồn tại đấy, nhưng không hiện hình, bởi không ai nhìn thấy nó. Món vũ khí được điều khiển bởi những thế lực ma quỷ và bản thân ông là một trong rất ít người biết được điều này.
Có kẻ nào đó đã lôi nó ra khỏi nơi cất giữ. Kẻ đó muốn dùng món vũ khí này để diệt trừ những người đàn ông đáng kính trọng, và ông biết, một vài thành viên trong nhóm hội ăn thề của ông đã qua đời, tại nước Mỹ, tại châu Á, một người ở Berlin.
Bây giờ đến ông.
Bá tước Dean Ellroy thở nặng nhọc. Ông là một người đàn ông cao lớn có mái tóc đã xám trắng, khuôn mặt thon nhỏ với đôi mắt đại bàng tinh tường, một đôi mắt có thể nhìn thấu đến tận đáy tâm hồn người đối diện. Nhưng tất cả những nét tinh tường sắc sảo đó giờ đ

Back to posts
[Game Online Nhập Vai] - Vấn Kiếm 2012 - Vô địch PK
Vườn Thiên Đường - Cùng chơi game, trồng cây, kết bạn, tán gái
Siêu Bài iWin+ 2012 phiên bản mới nhất
+ Tải clip girl xinh trong phòng tắm
Sòng Bài 2012 - Tá Lả, Tiến Lên, Poker, 3 Cây


© 2012 Hà Văn Phú . All right reserved

Games cực đỉnh trên di động. TẢI NGAY MIỄN PHÍ!!!
C-STATU-ON

(Seo) Bạn đến từ :