Vào ngày 4 tháng Hai, 1986, nông gia John Reen điện thoại báo cảnh sát ông nhìn thấy một xác chết lõa thể của một phụ nữ trẻ trong cánh đồng gần nhà. Nhiều xe cảnh sát chạy đến hiện trường và họ khám phá xác chết là nữ y tá Anita Lorraine Cobby, người đã bị báo mất tích bởi gia đình ngày hôm trước. Nạn nhân rõ ràng đã bị kéo qua một hàng rào kẽm gai, bị đánh đập tàn nhẫn, với rất nhiều vết thương trên đầu, ngực, mặt, vai, bụng, đùi và hai chân. Cổ họng của cô bị cắt và chiếc đầu gần như đứt lìa.
Các chuyên viên y khoa tin tưởng Anita Cobby còn tỉnh táo khi bị cắt cổ họng, và phải mất từ hai đến ba phút bị chảy máu cho tới chết. Anita Cobby cũng đã bị hãm hiếp rất nhiều lần. Điều duy nhất mà cảnh sát có thể giả định một cách chính xác ngay thời gian khám phá xác chết là "nhiều hơn một người, có thể là một nhóm" đã thực hiện tội ác ghê rợn này.
Vụ giết chết Anita Cobby đã làm công chúng vô cùng giận dữ. Các bản thỉnh nguyện với hàng chục ngàn chữ ký ủng hộ việc tái áp dụng án tử hình đã được trao cho chính phủ NSW. Một đài truyền hình ở Sydney thực hiện một cuộc thăm dò trên điện thoại, ghi nhận gần 16,000 cú điện thoại, cho thấy gần 95 phần trăm ủng hộ việc tái áp dụng hình phạt tử hình. Đối với một công chúng đang hết sức hoang mang, các kẻ phạm tội ác tàn bạo này vẫn có thể đi lại tự do trên đường phố là điều không thể tưởng tượng được, và họ không xem chúng là những con người bình thường.
Nhóm 5 tên đại ác này là những kẻ hèn nhát chuyên rình rập phụ nữ và tài sản của những người khác. Chúng ở tù như cơm bữa vì phạm các tội ăn cắp vặt, sử dụng ma túy, ăn trộm xe, lẻn vào nhà ăn trộm, ăn cướp có vũ khí, vượt ngục, mua bán đồ ăn trộm, hành hung và hãm hiếp. Tên đầu đảng là John Raymond Travers. Mặc dù chỉ mới 18 tuổi, cảnh sát tin rằng John Travers chịu trách nhiệm cho các vụ hãm hiếp ít nhất một chục người đàn ông và phụ nữ. Hắn đã vào tù ra khám kể từ khi 12 tuổi, lần đầu tiên bị bắt vì tội sử dụng cần sa.
Nghiện rượu ở tuổi 14 và làm bất kể những gì hắn muốn, hoàn toàn không có sự kiểm soát của cha mẹ. Là anh cả trong số bẩy anh chị em, John Travers lớn lên trong một vùng ngoại ô lao động, Mount Druitt, thuộc miền tây Sydney. Nhưng nơi đây cũng là một trong năm vùng ngoại ô nổi tiếng ăn trộm và lạm dụng ma túy đứng đầu bảng.
Khi người cha tài xế xe buýt, Ken, rời khỏi gia đình, bà mẹ của hắn, Sharon, đã không thể ứng phó được cảnh chồng bỏ con cái lêu lổng. Bà ta ăn uống vô độ và đã biến một thân thể cân đối trở thành béo phì, nặng hơn 120 ký, và thậm chí không còn có thể sinh hoạt bình thường trong nhà, như đi toilet và tắm rửa. Khi trở nên lớn tuổi hơn và mập phì, bà Sharon Travers sống phần lớn thời gian trong bệnh viện, điều trị nhiều chứng bệnh liên hệ trực tiếp đến thói quen ăn uống thiếu lành mạnh. Để mặc John coi sóc gia đình, và khi lậm vào rượu và cần sa hắn đã phải ăn trộm để có tiền.
Một trong những điều ác độc mà John Travers rất thích làm là giết thú vật. Hắn rất thành thạo công việc này vì đã làm việc một thời gian ngắn tại lò mổ thịt ở địa phương. Hắn cũng rất thích làm tình với thú vật. Nhiều người quả quyết đã nhìn thấy John Travers giao hợp với cừu, heo, dê, gà và bò, và khi sắp đạt đến sự khoái lạc hắn kéo đầu con vật xấu số và cắt cổ họng nó.
Thân thể của John Travers xâm khắp mọi nơi, kể cả dương vật của hắn. Nhưng hình xâm dễ nhận thấy nhất là giọt nước mắt ngay dưới con mắt trái, với hình xâm này hắn nghĩ làm hắn trông giống một tay anh chị dữ dằn. Thế nhưng Travers chỉ hung dữ khi đi chung với nhóm của hắn, những kẻ thường đánh đập, hãm hiếp phụ nữ và những người đồng tính tại trạm xe lửa và các nhà vệ sinh công cộng. Khi một mình, Travers là tên chết nhát. Nhưng đối với những đàn em khờ dại, hắn là tên đầu đảng gan dạ, chuyên xúi giục tấn công tình dục và hành hung. Chúng thường không bị trừng phạt bởi vì các nạn nhân không dám báo cảnh sát vì sợ bị trả thù.
Thế nhưng một nạn nhân đã trình cảnh sát. Trong giữa năm 1985, Travers và nhóm của hắn đã đánh đập và hãm hiếp một cô gái tại Toongabbie, một nơi cách Mount Druitt vài cây số, và nạn nhân đã cung cấp cho cảnh sát một sự miêu tả rất chi tiết người đàn ông có hình xâm giọt nước mắt bên dưới con mắt trái. Khi Travers biết cảnh sát muốn tìm gặp để hỏi chuyện, hắn cùng với ba đồng bọn bỏ trốn tới Tây Úc mãi đến khi vụ này lắng xuống.
Chúng lẩn quẩn ở vùng bờ biển nghỉ mát Mandurah, cách Perth chừng 60 cây số về hướng nam. Và chẳng bao lâu cảnh sát địa phương đã lưu ý nhóm đầu trộm đuôi cướp được cầm đầu bởi tên Travers có các hình xâm trên mặt. Chúng chạy lòng vòng thành phố trong chiếc xe với bảng số NSW. Travers làm quen với một thiếu niên 17 tuổi đồng tính luyến ái ở địa phương và sắp xếp cho một đàn em chụp hình hắn đang làm tình với cậu ta. Vào một buổi tối khi hắn ngà ngà say rượu và ma túy, Travers dẫn các đàn em tới nhà người yêu đồng tính này, đánh đập và hãm hiếp thiếu niên này ngay trước mặt các đàn em. Với các vết thương khắp mình mẩy thiếu niên này đã ráng lết tới trạm cảnh sát để trình báo. Cảnh sát vây bắt được hai tên nhưng Travers và tên đàn em còn lại đã tẩu thoát.
Trở về Sydney, Travers tỏ ra rất tự hào kể cho một người bà con nghe vụ hãm hiếp tàn bạo này, (người bà con này được gọi là Miss X). Hắn nghĩ lầm Miss X rất ngưỡng mộ hắn. Nhiều lần trong quá khứ hắn đã tâm sự với Miss X, và cô luôn miệng nói rất thích nghe các câu chuyện hấp dẫn của hắn. Nhưng Miss X đã chẳng bao giờ tiết lộ cho bất cứ ai vì sợ John Travers giết chết nếu hắn biết được.
Travers kể chi tiết vụ hãm hiếp thiếu niên đồng tính và đã cho xem các tấm hình mà đàn em của hắn chụp được. Hắn cho Miss X biết rất muốn cắt cổ họng người thiếu niên này khi đạt tới khoái lạc cực điểm. Như hắn đã làm với các con cừu. Miss X rất sợ hãi, và đây không phải là câu chuyện dễ quên được, do đó, tám tháng sau, khi nghe câu chuyện Anita Cobby bị hãm hiếp và giết chết một cách ghê rợn, cô đã nhớ ngay những gì Travers đã kể về vụ hãm hiếp tàn bạo ở Tây Úc.
NHỮNG TÊN ĐÀN EM ĐẠI ÁC CủA TRAVERS
Một trong những đàn em trung thành của Travers là Michael (Mick) James Murdoch. Mick rất ngưỡng phục Travers. Mẹ của hắn, bà Rose Murdoch, rất ghét sự ảnh hưởng của Travers đối với đứa con trai và bà đã khuyến cáo Mick nhiều lần rằng Travers sẽ làm hắn vào tù. Travers và Mick cùng tuổi và không rời nhau kể từ khi còn rất nhỏ. Chúng tự xem là hai anh em ruột, thường để tóc và mặc quần áo giống nhau, và xâm hình cho nhau trên thân thể. Cũng giống Travers, Mick Murdoch lớn lên trong một gia đình tan vỡ và đã gặp rắc rối với cảnh sát khi chỉ mới 12 tuổi. Lần phạm tội đầu tiên của hắn là hút cần sa với Travers.
Với số tuổi 33, Michael Patrick Murphy là thành viên lớn tuổi nhất trong nhóm của Travers, nhưng hắn không phải là người khôn ngoan nhất. ở tù 25 năm vì 33 lần bị kết án tội đột nhập tư gia ăn trộm, và toan tính vượt ngục mới nhất của hắn đã thành công. Và thậm chí vụ vượt ngục này không phải do hắn hoạch định. Một tình huống bất ngờ xảy ra khi Murphy và một tù nhân khác được tin tưởng cho ra bên ngoài cổng nhà tù Silverwater và chúng đã quyết định tẩu thoát. Murphy đã chạy trốn trong sáu tuần lễ, ngay vào thời gian xảy ra vụ giết chết cô Anita Cobby.
Murphy đã sống nửa đời người trong tù. Là con cả trong số chín người con, Murphy được trông đợi làm gương cho các em trai và em gái. Nhưng hắn đã bắt đầu phạm tội trong những năm đầu của tuổi thiếu niên và kể từ đó rất hiếm khi ra khỏi nhà tù. Xâm hình rất nhiều như Travers, Murphy nổi tiếng là một tên côn đồ hung dữ ở khắp các vùng ngoại ô phía tây Sydney.
Hai em trai của Patrick Murphy, Les và Gary Murphy, là các thành viên còn lại trong nhóm của Travers. Cả hai đều phạm tội như cơm bữa. Trẻ hơn Patrick Murphy bốn tuổi, Gary Steven Murphy có một hồ sơ phạm tội rất dài, gồm nhiều tội ăn cắp xe, xâm nhập tư gia ăn trộm, hành hung và vượt ngục. Gary tự cho mình là một người chiến đấu, hay đánh lộn và bị cấm cửa bởi hầu hết các câu lạc bộ và quán rượu trong khu vực. Mỗi khi nốc vài ly rượu, hắn thường gây sự để đánh lộn, thế nhưng hầu hết những lần ẩu đả Gary đều bị đánh nhừ đòn. Cả khu xóm đều thở phào nhẹ nhõm khi cảnh sát tóm cổ Gary Murphy đưa vào tù.
Người em trẻ tuổi nhất trong ba anh em Murphy là Leslie Murphy 24 tuổi. Rất giống Patrick và Gary, Les có một tính tình rất hung dữ và cái tật lắm mồm. Hồ sơ phạm tội của hắn cũng rất dài, gồm nhiều tội trộm tư gia, trộm xe và cả cưỡng hiếp. Ai cũng biết Les không gặp may mắn với các cô bạn gái và chỉ phương cách duy nhất mà hắn có thể thỏa mãn tình dục là "ăn bánh trả tiền" hoặc cưỡng hiếp.
Mặc dù thường tỏ vẻ rất chì khi đi chung với bạn bè, thật sự thì Les Murphy rất sợ hãi khi một mình, hắn dựa vào sự nổi tiếng của hai người anh Gary và Patrick. Tương tự hầu hết các thành viên trong nhóm, Les sống phần lớn cuộc đời trưởng thành trong nhà tù. Ba anh em Murphy đã gặp nhau trong tù nhiều hơn khi sống ngoài đời. Những khi không trong tù, anh em Murphy tung hoành ở vùng Blacktown, Mount Druitt và khu vực thuộc phía tây thành phố Sydney.
Với Patrick vừa vượt ngục và hai đứa em trai của hắn vừa được thả tự do, đây là một dịp rất hiếm để ba anh em Murphy gặp nhau bên ngoài nhà tù. Nhưng buổi tối Chủ nhật định mệnh đó, ngày 2 tháng Hai, 1986, ba anh em Murphy đã cùng đi với Murdoch và Travers trong một chiếc xe ăn cắp để săn tìm một nạn nhân. Và chúng đã gặp Anita Cobby.
NGƯỜI CON GÁI ĐẸP YỂU MỆNH
Anita Lorraine Cobby, 26 tuổi, là một y tá tại Sydney Hospital. Trước đây cô đã từng thắng giải hoa hậu và được nghĩ có sắc đẹp để trở thành một người mẫu chuyên nghiệp. Thế nhưng cô đã chọn công việc y tá. Anita sống với cha mẹ, ông bà Garry và Grace Lynch, trong một căn nhà nhỏ rất giản dị của gia đình ở Blacktown, một vùng ngoại ô cách trung tâm Sydney khoảng 40 cây số về phía tây. Ông Garry Lynch là một họa sĩ vẽ bản đồ cho hải quân cho đến khi về hưu trước đó vài năm. Người vợ, bà Grace, là một y tá và vẫn làm việc không thường xuyên tại một bệnh viện địa phương để kiếm thêm tiền trong tuổi về hưu.
Ngoài Anita, ông bà Lynche có thêm một cô con gái 22 tuổi nữa, Kathryn. Cả hai cô gái này học rất khá, chẳng bao giờ đi chơi đêm và rất ưa thích bãi biển và cảnh ngoài trời. Anita là một học sinh suất xắc và được nhiều bạn bè yêu mến tại trường Evans High School ở Blacktown. Khi 20 tuổi, một người bạn của gia đình đã thuyết phục cô ghi tên tham dự cuộc thi hoa hậu Miss Australia để gây quỹ cho trung tâm trẻ em khuyết tật Spastic Centre. Gia đình Lynche đã biến việc từ thiện này thành một công việc của gia đình. Họ đi bán vé số tại khắp các trung tâm thương mại ở địa phương, thu tổng cộng được $10,000 và Anita được đội vương miện Miss Western Suburbs Charity Queen. Các tấm hình của một cô gái cao xinh đẹp, mái tóc quăn mầu nâu sậm, nụ cười duyên dáng đã xuất hiện trên tất cả các tờ báo. Chỉ trong thời gian rất ngắn Anita trở thành một người nổi tiếng.
Thế nhưng Anita Lynch không muốn được mọi người chú ý đến. Cô có thể theo đuổi một sự nghiệp người mẫu đầy quyến rũ, nhưng với sự vui sướng của cha mẹ, cô đã nạp đơn xin được huấn luyện làm nữ y tá tại Sydney Hospital. Anita được chấp thuận và đã trở thành một y tá, cô làm việc rất siêng năng trong ngành giải phẫu. Trong khi làm việc tại Sydney Hospital, Anita đem lòng yêu thương John Cobby, một nam y tá đẹp trai lớn hơn cô 3 tuổi. John và Anita có cùng sở thích xem phim, nghe nhạc và cùng học với nhau. Cha mẹ Anita rất thích John và khi cặp tình nhân này hứa hôn, họ tin rằng con gái họ đã có được sự chọn lựa tốt nhất.
Anita và John Cobby kết hôn trong tháng Ba năm 1982. Trong ba năm sau đó họ đã du lịch ngoại quốc rất nhiều lần, sống và làm việc một thời gian tại Coffs Harbour, một vùng duyên hải phía bắc tiểu bang NSW. Họ trở về Sydney trong năm 1985 và chỉ trong vòng vài tháng, cuộc hôn nhân này không hiểu vì sao đã kết thúc. Anita trở về sống với cha mẹ ở Blacktown. Cặp vợ chồng trẻ này giữ kín vấn đề tình cảm của họ, nhưng rõ ràng cả hai đều rất đau buồn bởi sự tan vỡ này. Họ vẫn thường xuyên liên lạc với nhau bằng điện thoại, nhưng đã không trở lại với nhau.
Anita Cobby đã không gặp khó khăn khi trở lại làm việc tại Sydney Hospital. Cô đã đắm mình vào công việc để quên đi cuộc hôn nhân tan vỡ, dành hầu hết thời gian tại bệnh viện và giao tiếp với các bạn đồng nghiệp. Nữ y tá Cobby chẳng bao giờ quan tâm đến giờ giấc làm việc. Khi phải làm việc trễ buổi tối, cô thường điện thoại cho cha đến đón tại trạm xe lửa Blacktown. Và bất kể giờ giấc nào, ông Garry Lynch cũng sẵn sàng để đi đón cô con gái. Trong buổi tối Chủ nhật định mệnh đó tại sao Anita đã không gọi điện thoại cho cha đi đón, nhưng lại quyết định đi bộ về nhà, sẽ vẫn là một sự bí ẩn mà chẳng bao giờ có thể được trả lời.
BUỔI CHIỀU CHủ NHẬT ĐỊNH MỆNH
Sau buổi làm việc, vào lúc 5 giờ chiều Chủ nhật ngày 2 tháng Hai, 1986, Anita Cobby và hai người bạn nữ y tá đi đến một nhà hàng Lebanese ở Redfern để ăn cơm chiều. Lyn Bradshaw và Elaine Bray đã học cùng khóa y tá với Anita và họ đã trở thành bạn thân trong nhiều năm. Sau bữa ăn chiều đó, Lyn đã chở Anita đến trạm Central Railway để đón xe lửa về nhà. Cả hai người bạn đều đề nghị cô về nhà ngủ buổi tối hôm đó, nhưng cô từ chối, chào tạm biệt và bước vào trạm xe lửa. Ngoại trừ những kẻ giết người, đó là thời gian sau cùng mà bất cứ ai có thể nhớ lại đã nhìn thấy Anita Cobby còn sống.
Khi cô con gái không gọi điện thoại ra đón buổi tối hôm đó, ông Garry Lynch đã không lo lắng gì cả. Anita thường làm việc rất trễ và ở lại đêm với các bạn đồng nghiệp trong thành phố. Cô là người hiểu biết và rất có trách nhiệm, do đó chẳng có lý do nào để ông Lynch phải lo lắng. Buổi trưa hôm sau khi người nữ y tá trực từ Sydney Hospital điện thoại hỏi thăm tại sao Anita không đi làm, ông Lynch liền đề nghị hãy liên lạc nhà người bạn của cô. Và khi được cho biết các người bạn đã có mặt ở sở và họ cũng đang rất lo lắng, ông Garry Lynch bắt đầu lo sợ. Ông điện thoại cho bà vợ ở sở làm và bà cũng không biết gì cả.
Ông Lynch điện thoại khắp những nơi mà Anita rất có thể đến. Đến chiều tối ông quyết định báo cho cảnh sát Blacktown con gái ông bị mất tích, và ngày hôm sau gia đình ông bà Lynch điên cuồng vì lo lắng. Người chồng cũ John Cobby cũng đã tham gia cuộc tìm kiếm, liên lạc với mọi bệnh viện, bạn bè và các bạn đồng nghiệp. Nhưng vẫn chẳng có tin tức gì. Tất cả những gì mà gia đình có thể làm là chờ đợi và cầu nguyện cho Anita trở về nhà an toàn.
Những gì mà các thám tử gan dạ đã nhìn thấy trên cánh đồng Boiler Paddock trong nông trại của ông John Reen ngày hôm đó chắc chắn sẽ hằn sâu trong đầu óc họ mãi mãi. Ông Reen khai với họ rằng buổi sáng hôm đó khi rời nhà ra đồng ông nhìn thấy các con bò có hành động rất khả nghi, chúng đi loanh quanh một vật gì đó trên mặt đất. Khi ông trở về chúng vẫn đứng trong cái vòng tròn đó và ông quyết định đến gần để xem điều gì xảy ra.
Cánh đồng Boiler Paddock tương đối xa từ căn nhà của ông Reen, và nó được đặt cho cái tên này bởi vì ông Reen nuôi tất cả các con bò già ở đó (boilers). Cánh đồng này chạy dọc theo con đường Reen Road, ở Prospect, một vùng ngoại ô chỉ cách trạm xe lửa Blacktown vài phút xe chạy. Xác của Anita Cobby được tìm thấy nằm bên trong hàng rào kẽm gai khoảng 100 thước, điều này cho thấy các tên giết người đã kéo cô qua hàng rào để vào cánh đồng cỏ. Bởi vì con đường Reen Road nổi tiếng là nơi hò hẹn của các cặp tình nhân, do đó một chiếc xe đậu ở đó vào buổi tối Chủ nhật không phải là điều bất thường.
Khi Đại úy cảnh sát Kennedy và Thám tử Heskett đến gõ cửa gia đình Lynch ngày hôm đó, ông bà Grace và Garry Lynch đã lo sợ điều tệ hại nhất. Hai thám tử này nói với họ rằng cảnh sát đã tìm thấy xác chết của một phụ nữ trẻ trong một cánh đồng tại Prospect, và nó rất giống sự miêu tả cô con gái bị mất tích của họ. Đại úy Kennedy cho ông bà Lynch xem một chiếc nhẫn cưới mà họ lấy được từ xác chết.
Sau đó các thám tử mời ông Garry Lynch đi cùng với họ đến nhà xác để nhận diện con gái của ông. Họ đã đứng đỡ ông Lynch nức nở nói lời vĩnh biệt cô con gái lần cuối cùng. Các thám tử này biết rõ rằng họ sẽ không bao giờ được yên tâm cho tới khi bắt được các kẻ giết chết Anita Cobby. Hai thám tử địa phương, Kevin Rause và Graham Resetta, đã được gọi đến. Cả hai đều là các cảnh sát viên nhiều kinh nghiệm, họ biết rõ mọi ngõ ngách của khu vực như trong lòng bàn tay. Kể từ giây phút đó, John Travers và các đồng bọn của hắn đã không có một cơ may nào cả. Dù phải mất cả phần đời còn lại của họ, Thám tử Kennedy và nhóm của ông sẽ không để chúng trốn thoát.
Một nhóm đặc nhiệm được thành lập tại trạm cảnh sát Blacktown. Cuộc lục soát khắp cánh đồng cỏ Boiler Paddock đã chẳng tìm thấy gì cả. Mặc dù xác chết của cô ta trần truồng, không một mảnh quần áo nào của Anita Cobby đã được tìm thấy. Không có vũ khí giết người, không có động lực và cũng chẳng có lý do nào để Anita có mặt ở cánh đồng này vào lúc bị giết chết. Cô hoàn toàn không có kẻ thù và không liên hệ đến các kẻ tội phạm hoặc buôn bán ma túy. Cũng chẳng có một người yêu bí mật hoặc người đàn ông có gia đình nào trong đời cô. Anita Cobby thực sự là một tấm gương hoàn hảo của một phụ nữ rất đứng đắn.
Cuộc điều tra của cảnh sát gặp bế tắc. Họ điều tra tiếng la hét mà ông Reen đã nghe thấy nhưng cũng chẳng đi đến đâu. Con đường Reen Road là nơi hò hẹn của các cặp trai gái, do đó tiếng la có thể từ bất cứ ai. Nhóm đặc nhiệm đã phải bắt đầu một công việc rất mất thời gian, kiểm tra hàng trăm kẻ tội phạm trong khu vực. Những kẻ phạm tội tình dục được chiếu cố kỹ nhất, thế nhưng cảnh sát vẫn không tìm ra bất cứ manh mối nào. Các thám tử đã thẩm vấn hai người bạn đi cùng với Anita trong những tiếng đồng hồ cuối cùng. ở thời điểm này thậm chí không ai biết chắc Anita Cobby có đã đón chuyến xe lửa tới Blacktown buổi tối hôm đó hay không.
Và rồi manh mối đầu tiên xuất hiện. Các cư dân sinh sống trên con đường Newton Road, cách trạm xe lửa Blacktown vài trăm thước, cho biết đã nhìn thấy một cô gái bị kéo vào một chiếc xe hơi buổi tối Chủ nhật. Cô ta vùng vẫy và la hét. Họ điện thoại cảnh sát và miêu tả chiếc xe Holden Kingswood mầu xám và trắng. Cảnh sát mặc thường phục đã điều tra cú điện thoại này nhưng một cuộc lục soát trong khu vực đã không phát hiện gì cả.
Các nhân chứng vụ bắt cóc này khai với cảnh sát rằng vào lúc 9 pm, họ nghe một tiếng hét rất lớn và liền chạy ra ngoài. Họ nhìn thấy một người đàn ông thò chân ra từ cánh cửa của chiếc xe Holden. Một phụ nữ có mái tóc mầu sẫm đã vùng vẫy và la hét dữ dội trong khi chiếc xe không bật đèn chạy đi mất. Hai trong số các nhân chứng này, Linda và John McGaughey, đã kinh hoàng trước những gì họ nhìn thấy.
Khi người anh trai, Paul, và cô bạn gái, Lorraine Busher, về đến nhà một vài phút sau, John kể cho họ nghe và rồi Paul và Loraine chạy đi tìm chiếc xe này. Một trong những nơi mà Paul McGaughey đếm tìm là con đường nổi tiếng Reen Road, chỉ cách nơi Anita bị bắt cóc có vài phút xe chạy. Khi chạy được khoảng nửa con đường Reen Road, họ chạy ngang qua một chiếc xe HJ Holden mầu xám đời 1970, đậu ở lề đường và không có người bên trong. Họ đã không để ý đến chiếc xe này bởi vì sự miêu tả của chiếc xe mà họ nhận được là chiếc Holden Kingswood. Sau gần hai tiếng tìm kiếm khắp khu vực và một số địa điểm lân cận, họ trở về nhà.
Mặc dù vẫn không thể xác định Anita Cobby có đã thật sự đón chuyến xe lửa trở về Blacktown hay không, cảnh sát phải giả định rằng vụ bắt cóc được trình báo này chính là người phụ nữ đã bị giết chết. Nó xảy ra vừa vặn thời gian cô ta đến Blacktown. Nhưng tại sao Anita đã không điện thoại cho cha ra đón? Hoặc tại sao cô đã không đón một chiếc taxi?
Cảnh sát đã làm việc ngày đêm với vụ án giết người này. Họ đã quay trở lại cánh đồng Boiler Paddock vào ban đêm để có được "cảm giác" về những gì có thể đã xảy ra. Hàng trăm học viên cảnh sát đã được đưa đến để lục soát rất kỹ cánh đồng này, thế nhưng vẫn không mang lại kết quả nào. Sự hỗ trợ của công chúng rất lớn, hàng trăm cú điện thoại đã gọi đến nhóm đặc nhiệm. Và mọi cú điện thoại đều đã được đáp ứng một cách nghiêm túc.
Hai ngày sau khi tìm thấy xác chết của Anita Cobby, chính phủ New South Wales đã ra giải thưởng $50,000 cho những ai cung cấp tin tức đưa đến việc bắt giữ những kẻ giết chết cô ta. Đường dây điện thoại của cảnh sát đã hoạt động rất bận rộn, nhưng tất cả đều không mang lại kết quả. Đến lúc đó cảnh sát đã không chắc người phụ nữ bị bắt cóc ở đường Newton Road là Anita Cobby. Có thể Anita đã đón một chiếc taxi và bị giết chết bởi người tài xế. Họ kiểm tra mọi tài xế taxi trong khu vực.
Vào ngày Chủ nhật tiếp theo, một tuần lễ sau vụ giết người, một nữ cảnh sát viên đã diễn lại các hoạt động của Anita Cobby trong buổi tối cuối cùng với hy vọng có thể gợi trí nhớ của một người nào đó. Trung sĩ cảnh sát Debbie Wallace đã mặc quần áo tương tự bộ quần áo mà Anita đã mặc buổi tối cuối cùng đó và bước lên chuyến xe lửa tới Blacktown lúc 9 pm. Trong khi cô đi lại trong các toa xe, các thám tử đã phỏng vấn hành khách và cho họ xem hình ảnh của người phụ nữ bị giết chết.
Từ trạm xe lửa Blacktown, Trung sĩ Wallace đã đi bộ khoảng nửa tiếng đến nhà gia đình ông bà Lynch ở đường Sullivan Street. Cảnh sát chạy theo sau trong một chiếc xe không mang dấu hiệu. Một số chiếc xe đã dừng lại và đề nghị cho cô cảnh sát có cặp chân dài rất hấp dẫn này quá giang. Nhưng họ không phải là những kẻ đã giết chết Anita Cobby. Một lần nữa, cảnh sát vẫn trở về tay không.
TIẾN TRIỂN QUAN TRỌNG ĐẦU TIÊN CủA CảNH SÁT
Vào ngày thứ Ba, 11 tháng Hai, một người trong công chúng đã điện thoại cho cảnh sát biết ông ta đại diện cho bốn công dân có tin tức về kẻ giết người nhưng không dám trình báo vì quá sợ hãi. Người đàn ông này đã gặp cảnh sát và cho biết John Travers và hai kẻ tội phạm khác, Mick Murdoch và Les Murphy, đã lấy trộm một chiếc xe vài ngày trước khi xảy ra vụ giết người và đã sơn chiếc xe này trở thành mầu xám. Chúng tháo các chiếc mâm xe "mag wheels" và thay bằng các chiếc mâm thường.
Cuối cùng cảnh sát tin tưởng họ đã đi đúng hướng. Thật hết sức kín đáo, họ bắt đầu theo dõi nhưng nơi mà Travers thường lui tới. Họ không nói cho bất cứ ai biết về manh mối này vì sợ Traver và đồng bọn đánh hơi được và trốn thoát. Nhưng họ cần có thêm tin tức. Đến thời gian này chính phủ tiểu bang đã gia tăng tiền thưởng lên $100,000. Với củ cà rốt quá hấp dẫn này, một người đã xuất hiện và cung cấp một số địa chỉ mà John Travers có thể trú ngụ.
Trong một cuộc đột kích buổi sáng sớm vào một căn nhà gần Wentworthville, cảnh sát tìm thấy John Travers và Mick Murdock ngủ chung giường. Chúng thú nhận đã ăn cắp chiếc xe nhưng lại một mực nói không biết đến vụ giết chết cô Anita Cobby. Cảnh sát tìm thấy một dao găm của Travers có dính các vết máu. Khi bị hỏi các vết máu này đến từ đâu, Travers trả lời hắn đã giết một con cừu bằng con dao này.
Trong cùng thời gian bắt giữ Travers và Murdoch, cảnh sát cũng đã tóm cổ Les Murphy trong một căn nhà ở Doonside, một nơi cách xa chừng ba cây số. Trên chiếc xe Holden station của Les Murphy có các mâm xe "mag wheels" và các chiếc áo bọc ghế bằng da cừu từ chiếc xe bị lấy trộm này. Murphy thú nhận đã can dự đến vụ trộm chiếc xe này nhưng cũng phủ nhận bất cứ sự dính líu nào đến cái chết của Anita Cobby.
Les Murphy và Mick Murdoch bị kết tội trộm xe và được tại ngoại. Cảnh sát đã bí mật theo dõi cả hai, hy vọng rằng Murphy và Murdoch sẽ đưa họ đến chiếc xe bị mất trộm. Đây là chứng cớ quan trọng nhất, bởi vì chiếc xe có thể cung cấp các dấu tay, các mẫu máu và quần áo mà cảnh sát rất cần đến để liên kết vụ bắt cóc ở đường Newton Road với vụ giết người và với nhóm Travers.
TÊN ĐẦU ĐảNG THÚ TỘI
John Travers bị giam giữ vì bị ngờ vực đã phạm một số vụ hãm hiếp trong khu vực, gồm vụ hãm hiếp một thiếu nữ ở Toongabbie cách đó tám tháng. Cảnh sát tra hỏi Travers về vụ giết chết Cobby nhưng hắn đã không nhìn nhận bất cứ điều gì. Travers yêu cầu có một người thăm nuôi. Hắn trao cho cảnh sát số điện thoại của Miss X, người phụ nữ mà hắn đã kể cho nghe vụ hãm hiếp một thiếu niên ở Perth vài tháng trước đó.
Khi thám tử Kevin Raue điện thoại cho Miss X biết Travers muốn cô ta mang vào cho hắn một ít thuốc lá. Phụ nữ này đã nói những điều về John Travers mà cảnh sát rất muốn nghe, và họ đã thu xếp một cuộc gặp mặt tại một nơi công cộng ngay trong buổi chiều hôm đó. Khi họ gặp nhau, Miss X, một kẻ nghiện bạch phiến, cho biết rất lo sợ bị bắt gặp đang nói chuyện với cảnh sát. Miss X đã kể vụ hãm hiếp ở Tây Úc và thêm một vụ hãm hiếp khác nữa mà Travers đã nói cho cô ta nghe. Và cả trong hai trường hợp, Travers đã nói đến việc dùng con dao găm trên thân thể của các nạn nhân, tương tự phương cách mà nó thật sự đã được sử dụng đối với Anita Cobby.
Miss X biết rõ John Travers là người mà cảnh sát đang muốn buộc tội và đã đồng ý giúp cảnh sát bẫy hắn. Cô ta sẽ hỏi Travers về vụ giết người này và rồi sẽ báo cho cảnh sát. Buổi sáng hôm sau, Miss X đến với một số gói thuốc lá cho Travers và đã được để nói chuyện riêng với tù nhân trong nửa tiếng. Khi trở về, mặt mày phụ nữ này tái xanh và run lên vì sợ. Cô ta bật khóc và cho cảnh sát biết Travers vừa kể rằng hắn đã giết chết Anita Cobby. Miss X làm một bản khai về những gì mà Travers đã kể và đồng ý vào thăm hắn lần nữa buổi sáng hôm sau. Lần này Miss X được gắn một máy thu băng trong người. Travers đã kể tất cả. Hắn đã khoe phương cách mà cả nhóm đã bắt Anita Cobby, hãm hiếp, đánh đập và cuối cùng Travers đã cắt cổ nạn nhân như thế nào.
Cảnh sát đã không gặp khó khăn khi tóm cổ Mick Murdoch và Les Murphy. Chúng đã bị theo dõi kể từ lúc được tại ngoại. Murdoch có mặt ở nhà, Murphy được tìm thấy nằm trốn giữa hai người đàn bà dưới một tấm chăn đắp. Murdoch và Murphy đã khóc lóc và đổ lỗi cho John Travers khi chúng tự thú với cảnh sát. Travers bị lôi ra khỏi xà lim và đã viết bản thú tội, trong đó hắn nêu đích danh mọi đồng bọn đều dính líu đến vụ giết người này. Và hắn đã không phủ nhận là người thật sự đã giết chết Anita Cobby.
Cảnh sát thông báo cho giới truyền thông ba người đàn ông bị buộc tội bắt cóc và giết chết Anita Cobby. Hàng trăm người đã đổ đến trạm cảnh sát Blacktown để bầy tỏ sự giận dữ và đưa ra các ý kiến nên làm gì đối với các tên vô loại này. Nhiều người đòi treo cổ chúng. Khi chúng được chuyển từ trạm cảnh sát tới tòa án địa phương Blacktown, nhiều người đã phỉ nhổ vào chiếc xe chở tù. Và khi ba chiếc xe này rời khỏi tòa án dân chúng đã vỗ tay khen ngợi cảnh sát. Lúc đó là 22 ngày kể từ khi cô Anita Cobby bị giết chết.
Hầu hết các tờ báo đã đăng hình ảnh và các lời miêu tả nhân dạng của hai tên bị truy nã và khuyến cáo công chúng không nên đến gần chúng trong bất cứ trường hợp nào. Cảnh sát đã lục soát nhiều căn nhà trong khắp các vùng ngoại ô ở phía tây thành phố Sydney, nhưng cặp tội phạm này đã tránh né họ. Và rồi một người đàn ông gọi điện thoại cho biết có hai thanh niên rất giống sự miêu tả trên báo đang sống trong căn townhouse ngay bên cạnh nhà ông. Ngay tức khắc cảnh sát đã vây kín dẫy townhouse ở Tari Way, Glenfield, một vùng ngoại ô cách Blacktown khoảng 22 cây số. Khi một phụ nữ rời khỏi căn nhà, cảnh sát liền chặn bắt, cô ta cho biết hai anh em Murphy có mặt ở đó ban ngày nhưng đã đi khỏi. Cảnh sát không tin và quyết định xông vào căn nhà này.
Với chiếc trực thăng cảnh sát, Polair, rọi đèn sáng cả khu vực, các thám tử đã đập cánh cửa xông vào nhà bắt giữ Mick và Gary Murphy. Lúc đó Mick đang ngồi xem truyền hình và không kháng cự. Gary toan tính chạy thoát ra cửa sau nhưng đã bị một cảnh sát vật xuống đất, và cả hai đụng mạnh vào một hàng rào, làm trầy mặt của Murphy. Sau này hắn khai đã bị cảnh sát đánh đập. Thật sự thì tên du đãng này quá sợ hãi đến độ "đái ra quần". Hai anh em Murphy bị áp giải đến trạm cảnh sát Blacktown và bị buộc tội giết chết Anita Cobby.
Tin tức về vụ bắt giữ này đã lan nhanh như một trận cháy rừng và một lần nữa đám đông giận dữ đã tụ tập bên ngoài trạm cảnh sát Blacktown, kêu gọi "máu phải trả bằng máu". Có tới 1500 người đã làm tắc nghẽn các con đường chung quanh trạm cảnh sát, họ chờ đợi để được nhìn thấy mặt các tên giết người. Vào lúc 9 giờ sáng, hai anh em Murphy chính thức bị buộc tội tại tòa án Blacktown.
HÀNH ĐỘNG MAN RỢ CủA BẦY DÃ THÚ
Từ năm lời khai của các bị cáo, bồi thẩm đoàn đã nghe những gì thật sự đã xảy ra trong buổi tối khủng khiếp Chủ nhật, 2 tháng Hai 1986. Suốt buổi trưa và buổi chiều Chủ nhật đó Travers và nhóm của hắn đã uống rượu tại Doonside Hotel, và tất cả đều đã say. Chúng quyết định chạy rong chơi trong một chiếc xe mà Travers đã lấy trộm một tuần trước đó, và để có tiền đổ xăng chúng dự định giựt chiếc xách tay của một phụ nữ.
Ngay lúc đó một người phụ nữ trẻ đẹp đi bộ một mình trên con đường Newton Road với chiếc túi xách đeo lủng lặng trên vai đã là một mục tiêu lý tưởng của nhóm du đãng này. Chúng ngừng xe ngay trước mặt Anita Cobby, Travers và Mick Murdoch nhảy ra và kéo nạn nhân vào trong xe. Chỉ vài giây sau khi bị kéo vào chiếc xe, Anita bị buộc phải cởi quần áo, nhưng cô cự tuyệt và nói nhiều lần với những tên du đãng này rằng: "Hãy tha cho tôi. Tôi đã có gia đình." Travers và Murdoch bắt đầu giựt xé quần áo và đấm vào mặt và đầu nạn nhân. Từ ghế trước Les Murphy đã chồm người ra phía sau đấm vào người Anita trong khi Michael Murphy tát vào mặt cô ta. Anita đã chống cự mãnh liệt nhưng không có cơ hội nào để thoát khỏi nanh vuốt của các tên quỷ dâm dục này.
Chúng giữ con tin nằm trần truồng trên sàn xe ở băng sau trong khi ghé vào trạm đổ xăng, và trả tiền lấy từ chiếc bóp của Anita. Trên đường từ trạm xăng tới Reen Road, Travers và Mick Murphy đã thay phiên hãm hiếp Anita ở băng ghế sau trong khi những tên khác lục soát chiếc túi xách của nạn nhân. Chạy được nửa con đường Reen Road, chúng ngừng xe và lôi nạn nhân trần truồng vào một đường mương, tại nơi đó Travers, Garry Murphy và Les Murphy đã luân phiên hãm hiếp. Garry Murphy đã buộc Anita phải làm tình bằng miệng và kê dâm nạn nhân.
Sau khi cả bọn đã thỏa mãn thú tính, thì bất chợt Michael Murphy nổi hung lên và hãm hiếp lần nữa, sau đó đấm đá Anita cho tới khi cô ta nằm bất động trên mặt đất. Les Murphy đã đá một cú thật mạnh vào đầu Anita trước khi chúng quyết định bỏ mặc nạn nhân nằm thoi thóp trên bãi cỏ và đi trở lại chiếc xe. Thế nhưng Travers tỏ ra không vui. Hắn bàn tính rằng Anita có thể đã nhận diện tất cả và đã nghe chúng gọi tên lẫn nhau, do đó cô ta phải bị giết chết. Travers nói với đồng bọn rằng: "Tao quay lại giết nó, không thể để nó sống để đi báo chúng mình. Tao sẽ cắt cổ nó."
Cả bọn đã đồng thanh thúc giục Travers ra tay hành động: "Đúng, con nhỏ này đã thấy rõ mặt chúng mình. Hãy trở lại thanh toán nó đi." Chẳng cần nhiều sự khuyến khích, Travers đã đi trở lại chỗ Anita nằm, ngồi lên lưng, nắm tóc giật mạnh đầu lên và dùng dao cắt cổ họng nạn nhân. Hành động dã man giống hệt như hắn đã từng làm đối với các con cừu. Trong bản tự thú, Travers nhớ lại rằng hắn đã cắt cổ họng Anita hai lần. Và chứng cớ pháp y đã chứng thực điều này. Travers bỏ mặc nạn nhân nằm trần truồng trên bãi cỏ, chảy máu cho tới chết với chiếc đầu bị cắt gần lìa thân thể.
Khi Travers đi trở lại xe, người hắn dính đầy máu của Anita và kiêu hãnh kể về hành động dã man mà hắn vừa làm. Sau đó chúng quyết định chạy xe đến nhà mẹ của Travers để tắm rửa. Trên đường đi, Travers đã kể chi tiết về hành động giết người ghê rợn này. Tất cả đều cười lớn và khen ngợi hắn rất chì và thông minh nhất. Không một kẻ nào trong đám giết người này đã có một chút sự ray rứt về hành động man rợ mà chúng đã làm.
Travers giải thích với người mẹ các vết máu dính đầy trên quần áo là do giết chết một con chó đã tấn công hắn. Mick Murdoch thu nhặt tất cả quần áo và vật dụng của Anita trên xe, và cả bọn đứng uống bia trong khi đốt các tang chứng ở sân sau nhà. Năm ngày sau chúng lái chiếc xe ăn cắp đến một khu rừng hoang vắng và đốt cháy.
Trong lời khai của các bị cáo, Gary, Les và Mick Murphy và Mick Murdoch đều một mực nói là đã không dính líu đến vụ giết chết Anita Cobby. Tất cả đều nói rằng cảnh sát đã đánh đập chúng và buộc chúng phải thú tội. Một khi Travers đã nhận tội, tất cả các tên đồng bọn đều đổ tội cho hắn. Gary Murphy quả quyết rằng thậm chí hắn đã không có mặt ở đấy trong đêm hôm đó. Hắn khai lúc đó đang uống rượu với các người bạn, nhưng lại không nhớ rõ ở đâu.
Les Murphy đã khóc lóc và cầu xin Thượng Đế giúp làm cho bồi thẩm đoàn tin rằng hắn đã không hãm hiếp và đánh đập cô Anita Cobby. Trong khi Michael Murphy thì nói rằng chỉ có mỗi mình hắn đã cố gắng ngăn cản hành động kéo Anita Cobby vào trong xe. Còn riêng Mick Murdoch khai rằng hắn rất sửng sốt trước toàn bộ câu chuyện này và hắn ngồi trong xe không dính líu đến.
Vào ngày 16 tháng Sáu, 1987, John Travers và các đồng bọn bị xử trong Tòa án Tối cao. Hàng trăm người đã đứng xếp hàng nhiều tiếng đồng hồ để theo dõi phiên xử này. Cuối cùng Quan tòa Maxwell đã tuyên bố bản án chung thân cho mỗi tên, và trong các tập hồ sơ của 5 tên tội phạm đại ác này đều được đóng dấu "Không Bao Giờ Được Thả". John Raymond Travers, Michael James Murdoch, Leslie Joseph Murphy, Michael Patrick Murphy và Gary Steven Murphy hiện đang bị giam trong các nhà tù kiên cố nhất của tiểu bang NSW. Và chúng sẽ chết rũ tù ở đó.
Công việc làm ăn ngày càng phát đạt. Có lẽ cũng chẳng cần mất từng ấy năm mới đi vào nề nếp và đảm bảo cho người sáng lập sự độc lập về tài chính mà nếu không có nó thì cũng khó mà tìm thấy sự thoải mái về mặt tinh thần. Cũng cần phải nói là còn nhờ vào nghệ thuật quảng cáo, rất cần thiết trên các báo chí chuyên ngành mà giữ vẫn được luồng thông tin đối với khách hàng, rồi những lời rỉ tai từ người nọ đến người kia đã góp phần xây dựng vẫn chắc uy tính của Phu nhân Nadia… Thực ra, tên thì đúng như vậy nhưng gọi là Phu nhân thì không đúng vì Nadia chưa kết hôn. Và có trời mới biết sao mà chị đẹp đến thế và có thể nói là có sức quyến rũ đến như vậy! Làn tóc nâu hung mượt mà ôm lấy khuông mặt trái xoan với cái miệng có đôi môi như vẽ dường như chỉ biết hé cười, và sống mũi dọc dừa thanh tú tưởng như bất cứ một chuyên gia nghệ thuật chỉnh hình tài năng nào cũng không thể tạo nên được. Đôi mắt mênh mông, long lanh sáng lần lượt chuyển từ màu xanh sang màu xám tùy theo giờ giấc trong ngày hoặc đêm và tùy theo cả những ánh phản quang của đám đông mà đôi mắt đó quan sát. Thân hình cân đối, cổ tay tròn lẳn, bắp chân thon thả vững vàng; ngắm từ xa, phu nhân Nadia, là một trong những nhà nữ ngoại cảm xinh đẹp nhất mà đã lâu người ta không nhìn thấy ở Pari. Phải nói thêm là ngoài vẽ đẹp duyên dáng mặn mà, nàng còn rất thông minh.
Cũng từ đó mà trí tuệ tung cánh vào cuộc; một trí tuệ không bị ràng buộc hạn chế và vô cùng mẫn tiệp đã giúp nàng hành nghề với đức tự tin tuyệt đối. Lúc này, nàng chưa tới ba mươi tuổi mà danh tiếng đã vang lừng vượt ra ngoài biên giới. Cũng vì thế mà nảy ra lòng ghen ghét, đố kỵ và hình như cả sự căm thù của số lớn những đối thủ cạnh tranh. Không một nhà nữ ngoại cảm hoặc một nam thuật sỹ nào mà không mơ ước được ngang tài và nổi danh như người phụ nữ đó. Còn Nadia, may thay, thật khôn ngoan, cô đã bỏ ngoài tai tất cả những lời khen chê nhiều khi thật là vô nghĩa.
Nàng sống trong một thế giới khép kín, trừ một vài ngoại lệ hiếm hoi, thực sự là một thế giới của riêng mình khi nào ngừng công việc coi vận mệnh tướng số (công việc này thường choán mất phần lớn thời gian trong ngày), nàng lại trở về với bà già Vêra.
Một bà già rất lạ kỳ! Ở tuổi bảy mươi sáu, bà nhìn thấy hết, nghe thấy hết, biết hết nhưng không vì thế mà sức mạnh cá tính của bà cùn nhụt hay thui chột đi. Là bà ngoại của cô cháu độc nhất và cũng là người thân độc nhất còn sót lại của gia đình và dòng họ là cô bé Nadia, bà Vêra Winowa đã truyền thụ cho cháu nhiều bí mật sâu kín giúp cho một thiếu nữ mau ***ng trở thành một thanh nữ rồi một phụ nữ không những đủ sức mạnh để đối diện với những gian truân của cuộc sống mà còn có thể giúp đở được đồng loại. Mặc dù tuổi tác đã cao nhưng bà Vêra còn rất nhanh nhẹn hoạt bác, gánh phần trách nhiệm, trong phòng xem vận số, tất cả những gì làm bộn rộn tới Nadia. Bà là người tự tay bóc các thư tín, ghi lại những cuộc hẹn qua điện thoại đối với khách hàng đặc biệt chứ không phải đối với bất cứ ai mời đến. Những người này thì xin cứ vui lòng ngồi chờ tới lượt mình ở phòng đợi. Cũng chính bà Vêra là người mở cửa và niềm nở đón khách. Trước khi đưa vào phòng Nadia, các vị này đều bị đôi mắt đen nhỏ nheo nheo vẻ tinh quái của bà già có mái tóc bạc trắng như cước quan sát tỉ mỉ, dò xét và phân tích. Nadia và bà Vêra đã trở thành một cặp thật là ăn ý.
Vào một buổi chiều, lúc mà Nadia tưởng là không còn ai ở phòng chờ, sắp sửa rời phòng chiêm lý, kết thúc một ngày làm việc căng thẳng: suốt tám giờ liền Phu nhân Nadia tiếp tám vị khách (mỗi giờ một vị) thì bà Vêra đi vào và báo với cô còn một bà khách rất mong được tiếp.
− Tại sao bà lại còn cho bà ta vào? – Nadia mệt mỏi hỏi bà – Đáng lẽ bà nên bảo là đã hết giờ và mời bà ta trở lại ngày mai vào 10 giờ sáng và sẽ được tiếp đầu tiên. Trông bà ta thế nào hả bà?
− Cũng khó nói đấy! Để tự cháu nhận xét thì hơn… Tuy vậy, nhìn bề ngoài, bà thấy có ba điểm: chị ta rất đẹp, trang nhã và lịch sự.
− Bà cho chị ta vào đi, nhưng sau đó dứt khoát không tiếp ai nữa đâu nhé! Cháu mệt lắm rồi!
Bà Vêra đã nhận xét đúng: rõ ràng là ở chị ta nổi bật lên ba “đặc điểm” đó, nhưng sắc đẹp thì lạnh, vẻ trang nhã: thiếu tự nhiên, còn dáng lịch sự: hơi quá cầu kỳ. Mái tóc nâu, kéo ra làm thành những giải che vầng tráng và hai tai, quấn lại thành một búi nặng buông thõng xuống sau gáy, thực ra cũng không đến nỗi thiếu vẻ duyên dáng xưa cũ. Tuy vậy, người phụ nữ còn quá trẻ, Nadia ước đoán là chị ta cũng chỉ sàn sàn tuổi mình. Đôi mắt đen với cái nhìn huyễn hoặc lạ kỳ nhưng thiếu sự nóng ấm. Cuối cùng là giọng nói, trầm buồn, dường như mỗi âm tiết đều được cân nhắc thận trọng trước khi thoát ra khỏi đôi môi mỏng đầy vẻ cay nghiệt. Một giọng nói chắc là không phải luôn luôn vui vẻ:
− Xin thứ lỗi, thưa bà tôi đến quá muộn và rất biết ơn bà đã vui lòng tiếp.
− Tôi chỉ làm tròn phận sự của mình thôi, thưa bà – Nadia lịch sự đáp – Nhất là có trường hợp khẩn cấp. Tôi xin nghe đây.
− Thưa, thế này… Đã mấy tháng nay, tôi bị ám ảnh bới một ý nghĩ lạ kỳ. Không hiểu sao tôi nhận thấy có một ảo giác vô cùng khó chịu: trong tôi như có hai con người một lúc. Một phía là con người được nuông chiều, có cuộc sống tràn đầy hạnh phúc, và phía bên kia là một người đàn bà luôn luôn bất mãn với mọi thứ trên đời. Tôi không sao phân tích, lý giải được và không hiểu lý do nào đã đưa tôi đến chỗ phân tâm đó. Vì tôi biết là người ta không bao giờ hiểu rõ được chính mình nên đã quyết định phải đi hỏi một nhà chuyên môn hoặc là nam hoặc là nữ. Nhiều tuần qua, tôi lưỡng lự giữa một thầy thuốc chuyên khoa thần kinh và một người có năng khiếu thấu thị. Cuối cùng tôi đã chọn giải pháp thứ hai, và sau khi tìm hiểu, tôi đã đến đây vì danh tiếng bà thật lớn. Vậy bà có thể nói về tôi ra sao?
− Bà muốn xem bằng cách nào? Bã cà phê, quả cầu pha lê, những lá bài đặc biệt hay là cỗ bài thường?
− Tôi nghĩ là cỗ bài thường có thể phát lộ ra những đều dễ hiểu hơn đối với tôi. Xin thú thật tôi chỉ là một người đàn bà trần tục, lần đầu tiên đến hỏi một nhà ngoại cảm, bà có tin như vậy không?
− Tại sao lại không? Bây giờ, xin bà cho một vài phút thật yên lặng.
Sau khi trang bài với một sự khéo léo và cử chỉ thật trang nhã mà chỉ những người chuyên nghiệp lâu năm trong nghề mới có, Nadia nói bằng một giọng thật dịu dàng và bình tĩnh:
− Bà làm ơn đảo bài giúp. Cám ơn.
Sau khi rải úp hết cỗ bài trên mặt bàn, nàng bắt đầu lật ngửa từng con một, chậm rãi, vừa làm vừa ngắm kỹ. Người khách nữ, lặng thinh, nhìn nàng làm, đôi mắt lạnh lùng chẳng tỏ một vẻ gì tò mò hay nghi hoặc. “Một vài phút im lặng” đòi hỏi có vẻ như kéo dài trong không khí tĩnh mịch của căn phòng. Cắm cúi trên cỗ bài, nhà nữ ngoại cảm có một vẻ gì như ngơ ngác… Cuối cùng nàng ngẩng đầu lên nhìn thẳng vào mắt vị khách.
− Đúng là cuộc đời của bà không đơn giản chút nào. Chính vì thế mà bà có một cuộc sống kép.
− Bà nhìn thấy cái đó như thế nào?
− Không có gì quan trọng. Nhưng đáng tiếc, lại đúng như vậy. Cuộc sống kép đó, sở dĩ tồn tại là do ý muốn của bà, nếu không muốn nói là bà thích như thế. Nhưng rồi bà sẽ thấy nặng nề và cuộc sống kép được nảy sinh ra đó làm cho bà ngày càng không chịu nổi.
Những nét nổi trội trong cá tính của bà, chắc chắn là có thể đổi thay do ảnh hưởng ngoại lai, thoạt đầu tiếp xúc chẳng dể ưa chút nào. Xin đừng giận vì đã nói thẳng, nhưng tôi bắt đầu nhận thấy bà là một người không sợ những đều nói lên sự thật. Rõ ràng là vì tiếng tăm của tôi, nói lên tất cả không úp mở điều gì, mà bà đã tìm đến tôi.
− Đúng như vậy. Xin bà cứ nói tiếp đi.
− Vậy thì nét chủ yếu của tính cách đó là tính vị kỷ điên khùng xuất phát từ lòng tham không có giới hạn. Xin bà nhớ cho là tham vọng rất có thể là một đức tính lớn lao ở một người phụ nữ thông minh biết coi tất cả mọi phương tiện là tốt miễn là nó mang đến cho mình sự thành đạt.
− Điều bà nói đó không có gì làm cho tôi mếch lòng cũng chẳng làm cho tôi ngạc nhiên. Đúng, tôi rất muốn thành đạt! Phải chăng đó là tội lỗi? Có người đàn bà nào là không mơ tưởng đạt tới một cái gì đó, dù là trên bình diện tình cảm hoặc trên bình diện vật chất? Trên bình diện thứ hai này, hình như chính bà, Phu nhân Nadia nổi tiếng mà tất cả mọi người đều trầm trồ, cũng không phải dở về mật tháo vát? Vậy thì sao lại phải lớn tiếng chê trách?
− Tôi chẳng chê trách gì ở bà, thưa bà. Tôi chỉ nhận xét vậy thôi. Khách của tôi muốn làm gì tùy ý: cái đó không can dự gì đến tôi cả. Vai trò của tôi lúc nào cũng giới hạn ở chỗ cố gắng tìm hiểu những gì xảy ra hoặc sẽ xảy ra trong cuộc sống của những người tìm đến tôi và mục đích duy nhất là để giúp đỡ họ. Làm sao mà tôi làm được việc đó nếu không chú ý tới những khuynh hướng về tính cách của mỗi con người?
Sau một giây lưỡng lự bà khách nói:
− Tất nhiên là bà có lý, nhưng xin bà hãy hiểu tôi: quan tâm lớn nhất và thực sự là duy nhất của tôi là liệu tôi có đủ can đảm để bảo đảm và duy trì được hạnh phúc của mình bằng bất kỳ giá nào không. Bà có thể nói cho tôi biết chứ?
Nadia không trả lời và lại cúi xuống nhìn ngắm những quân bài vẫn nằm ngửa trên mặt bàn. Phút chờ đợi căng thẳng như vô tận hơn lần trước. Cuối cùng, hầu như không còn bình tĩnh được nữa, bà khách hỏi:
− Nhưng… bà thấy gì trên những quân bài đó?
− Không có gì thêm! Nadia trả lời nhanh gọn và ngẩng đầu lên.
− Sao, không còn gì nữa ư? Tất cả mà bà cho biết chỉ là: tính vị kỷ, lòng tham và trí thông minh. Thế còn… thí dụ như tính dâm đãng chẳng hạn? Tôi có dâm đãng không?
− Tôi nghĩ là không.
− Thật ư? Những người xung quanh tôi không cho là như thế đâu! Thế tôi có phải là một phụ nữ đa tình không? Theo bà tôi rất có thể là một người bất lực hoặc lãm cảm trong tình yêu chăng?
− Tôi xin nhắc lại, thưa bà, tôi chẳng còn thấy vấn đề gì liên quan tới bà nữa.
− Bà nhạo báng tôi đấy ư?
− Tôi chưa từng nhạo báng ai bao giờ. Chẳng lẽ lại bắt đầu là bà? Xin bà hiểu cho là đôi khi – cũng khá hiếm, xin thú thật, nhưng mà có – đôi khi tự nhiên trí óc tôi bất ngờ rối mù lên, như trường hợp chiều nay. Tại sao lại như vậy? Cũng không biết nữa, nhưng tôi có thể đoan chắc với bà: tất cả những đồng nghiệp của tôi, cả nam và nữ đều có những trường hợp như thế. Đúng là hôm nay tôi xem cho rất nhiều người, như vậy cũng có thể là vì quá mệt. Đáng lẽ tôi không nên tiếp bà chiều nay, nhưng vì bà cố nài nên tôi không thể từ chối. Dù là tôi đặt lại vấn đề, làm lại quẻ bài một lần nữa thì kết quả cũng vẫn thế thôi. Vậy thì tốt hơn hết là chẳng nên gắng gượng. Một lần khác xin mời bà tới… Sáng hoặc đầu buổi chiều ngày mai nếu bà thấy thuận tiện. Tôi sẽ tiếp bà chu đáo. Dĩ nhiên là buổi hôm nay bà không phải trả tiền công vì một buổi xem thông thành.
− Mỗi lần xem bà lấy bao nhiêu?
− Tùy độ dài thời gian. Giá cả chúng tôi đã quy định từ lâu: một trăm quan cho nữa tiếng, cả tiếng thì mất hai trăm quan. Tôi nghĩ là hôm nay chúng ta, chẳng còn gì để trao đổi nữa.
Nàng thu lại cỗ bài và xếp vào ngăn bàn.
− Thú thực là tôi hôi thất vọng sau khi được nghe những gì mọi người nói về tiếng tăm của Phu nhân Nadia
− Tôi rất hiều bà. Thôi để lần sau, nếu bà không muốn tới một nơi khác. Chúng ta cứ cho là sự việc vừa qua thật ra thì rất bình thường thôi.
Nàng đứng dậy. Bà khách buộc phải làm theo.
− Xin chào bà – Nadia nói – Xin thứ lỗi cho tôi vì đã không làm cho bà được hài lòng – Tôi rất ân hận.
− Tôi cũng vậy. Không hiểu là tôi có trở lại thăm bà được nữa hay không. Xin tạm biệt.
Khi cánh cửa phía đầu cầu thang được khép lại, tạo nên một sự cách biệt giữa bà khách và nàng, Nadia cảm thấy nhẹ hẳn người như được gạt bõ đi một sự hiện diện đã làm cho nàng không chịu nổi ngay từ phút đầu tiên khi bà khách bước vào phòng. Điều mà nàng không thể nói ra được mới chính là lý do thực sự để nàng chấm dứt mau lẹ cuộc xem: sự thay đổi đột ngột, Mạnh mẽ và không thể nào ngăn được trong tình cảm đối với người khách lạ. Nàng phải nói thác ra là vì bất ngờ đầu óc nàng như bị che phủ không nhìn thấy gì toát ra từ những quân bài, nhưng thực ra nàng đã nhìn thấy những hiện tượng thật khủng khiếp. Không còn nghi ngờ gì nữa là người đàn bà này đã giấu sau bộ mặt xinh đẹp lạnh lùng một tâm trạng đáng sợ.
− Chị ta đi rồi à? – Bà Vêra hỏi.
− Vâng.
− Chị ta có việc gì khẩn cấp cần đến cháu thế?
− Thực ra thì cháu cũng không biết nữa. Vì thế nên cháu cũng chẳng xem được gì cho chị ta, và cũng chẳng lấy tiền công của chị ấy.
− Cháu mắc sai lầm rồi đấy. Nguyên tắc hàng đầu của nghề nghiệp là bắt khách phải trả tiền khi họ quấy rầy mình. Những giờ phút của cháu thật đáng quý, cháu yêu ạ. Nó là vàng là bạc đấy!
− Cháu thà không hành nghề nữa còn hơn là lấy tiền của một người đàn bà như vậy!
− Cháu làm sao thế? Bà thấy cháu thật kỳ cục. Sao khuân mặt cháu lại đăm chiêu thế kia? Chị ta nói gì làm cháu phật lòng chăng?
− Cháu xin nhắc lại là không biết vì sao mà chị ta lại tới đây. Có lẽ vì thế mà làm cháu thấy băn khoăn lo ngại. Cháu có cảm giác là chị ta tới đây để xem cháu làm việc như thế nào hơn là để nghe những gì cháu phát hiện. Điều cháu vừa nói có thể bà cho là ngớ ngẩn, nhưng nếu giả dụ chị ta là mật thám thì cái đó cũng không làm cháu ngạc nhiên!
− Tại sao lại nói tới mật thám với cảnh sát? Cháu đã làm đều gì phạm pháp nào? Hơn nữa một người sang trọng như chị ta thì sao lại có thể là cảnh sát với mật thám được! Có khả năng đó là một người cạnh tranh trong nghề nghiệp, một phụ nữ thuật sỹ không quen biết muốn xem cháu hành nghề ra sao vì đang ghen tức với thành công của cháu?
− Có thể như thế bà ạ. Dù sao chăng nữa đều này cháu đã thấy trong cỗ bài và hiểu được khi nhìn chị ta – đó là một người đàn bà ghê gớm và độc địa. Cháu không nhớ rõ, từ ngày hành nghề, cháu đã có lần nào khó chịu trong khi xem như vậy không. Cháu đã quá mệt và chị ta đã làm cháu rã rời. Thôi, không nói gì tới chị ta nữa, bà nhất trí không?
− Cháu có lý. Hay là chúng ta tới rạp chiếu bóng xem cuốn phim mà mọi người đang ca ngợi? Điều đó có thể làm cháu khuây khỏa.
− Cháu lại muốn đi ngủ bà ạ.
− Nhưng phải ăn đã chứ!
− Cháu không thấy đói.
− Thế ra chị ta đã làm cho cháu không còn muốn ăn nữa hay sao?
− Cháu cũng chẳng biết nữa… Thôi, ngày mai, bà nhé.
Một tuần trôi qua, công việc đã trở lại bình thường. Phu nhân Nadia hầu như quên hẳn người khách lạ mà sự hiện diện của chị ta đã làm nàng thật khó chịu. Vêra, một người bà tốt, sáng suốt và chu đáo thấy là chẳng nên nhắc lại chuyện người đàn bà đó trước mặt cô con gái. Yên tĩnh trở lại… thế rồi bất ngờ, cũng vào ngày giờ của tuần lễ trước, trong khi Nadia đang tiếp người khách cuối cùng – một đại tá về hưu là khách quen nhiều năm – thì bà Vêra bước vào báo:
− Chị ta đã trở lại! Bà phải làm sao đây? Bảo là hôm nay đã hết giờ xem hay là bảo chị ta ngồi đợi?
Rất bình thản, Nadia đáp:
− Cháu đã có linh cảm chị ta sẽ trở lại: đó là một người đàn bà không chịu bó tay thua cuộc. Tốt hơn là cứ tiếp dù chỉ là để biết chính xác xem chị ta muốn gì hoặc chờ đợi gì ở cháu.
− Có lẽ hay hơn cả là từ chối không nhận xem cho chị ta nữa chăng? Cháu hoàn toàn có quyền tự do chọn khách cho mình kia mà.
− Bà chẳng nên nói vậy; chính là khách lựa chọn cháu nên cháu phải tiếp nhận, bất kể họ là ai và người như thế nào. Bà hãy mời chị ta vào đi.
− Nhưng mà, cháu nhớ không… Lần trước, sau khi chị ta đi rồi, cháu đã ở trong trạng thái tồi tệ đến nỗi bỏ cả bữa cơm tối! Tiếp người đó làm gì, nếu cháu thấy chị ta làm ảnh hưởng xấu tới sức khỏe của mình?
− Không những chị ta gây ảnh hưởng xấu tới tinh thần và sức khỏe của cháu và còn cho cả mọi người nữa. Nhưng bà hãy yên tâm: hôm nay cháu thấy người sảng khoái và không quá mệt mỏi như hôm trước. Cháu sẵn sàng tiếp chị ta.
Bà khách trẻ bước vào phòng. Cũng như lần trước: xinh đẹp, lịch sự và trang nhã có thể còn hơn cả lần trước nữa nhưng thái độ thì lạnh băng. Vẫn bằng cái giọng trầm buồn, chị ta nói:
− Bà có ngạc nhiên không khi tôi trở lại mặc dù bà đã cho tôi một cảm giác chán ngán về cái gọi là năng khiếu thấu thị đặc biệt của bà?
− Không có gì làm tôi ngạc nhiên cả, thưa bà… Bây giờ bà muốn biết về vấn đề gì?
− Vẫn là vấn đề cũ thôi: liệu tôi có đủ năng lực để đảm bảo hạnh phúc của mình trọn vẹn không?
− Và bằng bất cứ giá nào? Cái này tôi hiểu. Tôi biết là không phải bà không có vấn đề gì tiếp nữa. Nhưng xin bà hãy cho biết: bà đặt vấn đề này dai dẳng và cũng quyết tâm chờ một lời giải đáp, phải chăng là vì từ trước tới nay, bà chưa bao giờ cảm thấy hạnh phúc?
− Đúng là không giấu được bà đều gì. Thực ra thì tôi cũng đã có một hình thái hạnh phúc nào đó và tôi cảm thấy rất rõ là dưới con mắt của những người xung quanh cũng như tất cả những người quen biết thì tôi là một người đàn bà có một cuộc sống đầy đủ. Song ở giữa cái bề ngoài giả dối và thực sự còn có một khoảng cách đáng kể… Xin bà hãy nói cho tôi rõ là cái hình thái hạnh phúc tương đối đó có cho phép tôi thành tựu hoàn toàn mà tôi hằng mong ước mà tôi có quyền được hưởng không?
− Chúng ta lại sử dụng cỗ bài chứ?
− Vâng, tôi tin ở những quân bài.
Với bàn tay thành thạo như máy, cỗ bài được trang kỹ, được khách trộn, đảo… rồi bà chủ trịnh trọng rải úp từng quân lên mặt bàn. Khi bắt đầu lật lên những quân bài đầu tiên, nhà nữ ngoại cảm không kìm được, phải thốt lên:
− Đúng y như lần đầu!
− Bà có trí nhớ tốt thật đấy!
− Cả bà cũng vậy, thưa bà, vì bà cũng nhớ những quân bài lật lên hôm nọ.
Lại yên lặng cho đến lúc tất cả các quân bài đều được lật lên. Lại một lần nữa, Nadia như bị cuốn hút, nhìn ngắm thực kỹ nhưng thật ra, nàng đã nhìn thấy rõ trong thứ tự sắp xếp các quân bài tất cả những gì cần biết: so với lần trước cũng chẳng có gì thêm đáng kể về bản chất đích thật của người khách lạ. Và cũng chính vì “nhìn thấy” những cái đó mà nàng cảm thấy sự khó ở dâng lên trong người giống như lần trước. Nhưng lần này nàng kiên quyết đấu tranh với mình để tỏ rõ cho kẻ lại đến thách thức là nàng khỏe, rất khỏe để người ta không thể coi thường một Phu nhân Nadia… Và nàng nói:
− Tôi sẽ không nói lại về những nét nổi bật trong tính cách mà hôm nọ tôi đã phát hiện với bà – mà cũng không biết đó có phải là một phát hiện không vì chính bà cũng biết rõ chẳng kém gì tôi? – Tôi vẫn thấy y nguyên trong quẻ xem hôm nay… Tôi còn thấy, và đều này chắc làm cho bà thích thú hơn nhiều, những lộn xộn phức tạp về mặt tình cảm hiện lên thật rõ ràng. Trong quẻ của bà có hai người đàn ông: một người là chồng và một người là nhân tình. Người chồng thì đang bị đe dọa, cái chết đang lượn lờ xung quanh.
− Bà không muốn nói là tôi có thể chịu trách nhiệm về cái chết đó sao?
− Không đâu! Nhưng hầu như chắc chắn nếu sự việc đó xảy ra thì bà cũng không phiền muộn gì lắm.
− Tôi thấy bà thật nghiêm khắc đối với tôi! Thì cứ nói ngay là bà khinh bỉ tôi đi!
− Người ta chỉ coi thường những kẻ thiếu ý chí, và những kẻ này thường đáng được quan tâm. Đó không phải là trường hợp của bà: bà là một nhân vật cực kỳ thích thú một kiểu người mà theo tôi thì khá là nguy hiểm.
− Thế là cuối cùng bà đã thẳng thắng với tôi! Bà đã bắt đầu làm tôi ham thích. Và cứ cho tôi là một người đàn bà đáng sợ thì bà có nhìn thấy một kết thúc khả quan có lợi cho tôi về vấn đề hôn nhân không?
− Tại sao lúc nào bà cũng vơ tất cả vào mình như vậy?
− Cũng như số đông những người đến nhờ bà xem về tương lại hậu vận, trước tiên tôi phải quan tâm đến bản thân đã, sau đó mới đến người khác… Đó cũng là bình thường thôi phải không?
− Hãy nói là rất đời thường. “Từ tâm đúng nhất là bắt đầu từ…”
− Chẳng cần phải viện ngữ làm gì, nhà ngoại cảm! Chúng ta hãy trở lại công việc: cuối cùng, thì tôi thắng hay bại?
− Đúng ra thì bà phải thắng nếu ở cuối quẻ bài nghĩa là ở giai đoạn ***t không có con Đầm cơ, nó chưa hẳn đã lọt vào trong đời sống của bà nhưng đã xuất hiện thật bất ngờ đến nỗi tôi không sao lý giải được. Một người đàn bà có nhiều dấu hiệu là một con người nguy hiểm.
− Hơn cả tôi ư? Điều này làm tôi ngạc nhiên và có đôi phần thích thú.
− Mỗi người đều tìm thấy niềm vui thích ở nơi nào có thể…
− Tóm lại là tình địch phải không?
− Không hẳn như bà hiểu: không phải là một người có nhiều tham vọng tầm cỡ như bà, nhưng đúng hơn là một người phụ nữ đa tình. Có bao giờ bà nghĩ là một phụ nữ đa tình và chân thành đôi khi tỏ ra đáng sợ hơn là một người đàn bà chỉ nghĩ đến việc sử dụng những phương tiện xấu xa nhất để đạt tới mục đích không?
− Bà Nadia thân mến, tôi thấy mình có sai lầm lớn khi đánh giá thấp khả năng của bà. Tôi càng hiểu rõ những lời khen ngợi của khách hàng đối với bà quả là xứng đáng. Tôi chưa biết những lời bà đoán về tôi đúng đến mức nào, nhưng đã có giá trị thật độc đáo. Vậy người nào trong hai người đàn ông hiện diện trong cuộc sống của tôi mà con Đầm cơ tìm mọi cách để chiếm đoạt: người chồng hay nhân tình?
− Vì người đàn bà đó xuất hiện, nên có thể người này hoặc người kia bị chinh phục… Đó là chưa nói có thể cả hai.
− Nguy hiểm đến thế kia ư? Liệu tôi có biết mụ ta không?
− Chưa đâu.
− Công việc của tôi sẽ khó khăn hơn vì trước hết tôi phải chiến đấu với mụ này đã, đúng không?
− Hôm nay thế là đủ. Tôi sẽ trở lại. Phải thanh toán cho bà bao nhiêu đây?
− Tôi đã nói với bà rồi: một trăm phrăng cho nửa giờ.
− Đây xin gởi bà gấp đôi. Nếu bà nói cho biết nhiều đều quan trọng nữa thì tôi sẽ chi thêm gấp bội.
− Ồ, xin bà hiểu cho là việc quan trọng duy nhất là làm sao cho khách hàng được hài lòng.
− Chắc tình huống này làm bà thích thú… Bà làm tôi thấy háo hức đó, bà Nadia ạ – Xin hẹn gặp lại.
− Tôi sẵn sàng phục vụ bà.
Sau khi người khách lạ, có dấu hiệu để trở thành một vị khách thường xuyên, đi khỏi thì bà Vêra bước vào:
− Thế nào, lần này công việc diễn biến ra sao?
− Đỡ tồi tệ hơn lần trước bà ạ. Nhưng cháu vẫn không thể ưa được người đàn bà này và cháu không sao lý giải nổi tại sao chị ta làm cháu sợ…
− Hình như cháu cũng không quá mệt mỏi như hôm nọ?
− Cháu đã kiềm chế được hệ thần kinh của mình nhưng khi chị ta đứng dậy ra về, cháu thấy sao mà nhẹ nhõm.
− Phải chăng chị ta có chút đồng bóng?
− Rõ ràng có một cái gì đó toát ra từ chị ta. Cháu sợ đó chẳng phải là lành mạnh! Không lúc nào, khi có chị ta trước mặt, mà cháu thấy một lóe sáng của tấm lòng nhân hậu.
− Cháu có tin là chị ta còn trở lại không?
− Chắc chắn chị ta còn đến nhưng cháu xin đoan chắc với bà đó sẽ là lần cuối!
− Ý cháu muốn nói sao?
− Cháu sẽ đòn chị ta về mặt tinh thần. Sau đó thì yên chí: chúng ta sẽ không bao giờ trông thấy chị ta nữa.
− Cháu mà cũng ác tâm như thế ư?
− Với loài sói bà ạ… Nhưng xin bà yên tâm: Với cháu, đó chỉ là nhất thời chứ không tồn tại lâu dài như ở chị ta.
− Cháu có nhận thấy sau khi chị ta ra về có cái gì phảng phất ở đây không?
− Cái gì vậy nhỉ?
− Mùi thơm hắc ở chị ta tỏa ra thấm vào tất cả căn phòng làm nghẹt thở.
− Bà nói đúng: y như là mùi chết ***c. Phải mau mau thông khí! Mở hết cửa sổ ra bà ạ!
Bà khách trẻ chẳng đợi đến một tuần mà hai ngày sau đã trở lại, vẫn bí hiểm và thanh lịch. “Ít ra đó cũng là một phụ nữ – bà Vêra nghĩ thầm – đặt cho mình cái đích tối cao là quyến rũ. Và chị ta có thể đạt được, bằng cách của mình! Một người đàn bà đẹp và độc ác thường làm mê say bọn đàn ông: họ bị khêu gợi, bị kích động! Cuộc chinh phục càng khó khăn, họ càng lăn xả vào để tranh đoạt cho kỳ được mới thôi. Nhưng với người đàn bà này, tất cả bọn họ đã lầm. Cả người chồng không thành công trong cuộc tình gắn bó, cả nhân tình lăm le muốn chiến cho riêng mình và còn bao nhiêu người khác nữa. Chị ta mạnh hơn họ. Người độc nhất thắng được chị ta – quẻ bài đã chỉ rõ – đó là một phụ nữ đa tình đích thực với vẻ ngoài vui tươi và bình thản biết nắm đúng thời cơ, biến thành một con hổ và bẻ gãy xương sườn con báo đen kia”.
Bằng giọng lúc nào cũng dịu dàng, nàng hỏi khách:
− Nào, hôm nay bà muốn biết điều gì?
Câu trả lời có ngay tức khắc và là một câu hỏi:
− Liệu tôi có trở thành một quả phụ vào một ngày gần đây?
Lần thứ ba cỗ bài được trang kỹ, được trôn đảo, được rải ra trên mặt bàn và được lật lên trong yên lặng. Lại cúi xuống cỗ bài, Nadia cảm thấy cái nhìn khắc nghiệt của khách đè nặng lên mình, nhưng nàng chẳng quan tâm. Điều chủ yếu là những gì nàng nhìn thấy qua những quân bài. Một quẻ xem ngay tức khắc làm nàng kinh hãi: Cũng là một loại ảo ảnh mà nàng căm ghét và có thể giải đáp ngay không cần có câu hỏi vừa đặt. Hai chữ QUẢ PHỤ hiện lên viết bằng máu trên mặt cát, trong khi khuân mặt người khách trẻ đang cúi nhìn, rạng rỡ một nụ cười y như một người đang thoả mãn với chiến công của mình. Nhưng rất mau lẹ, nụ cười đó biến thành một cái nhếch mép nhăn nhúm và thân hình người đàn bà vụt to phình lên khủng khiếp để biến thành một con quỉ. Tất cả những cái đó hiện ra chỉ khoảnh khắc. Aûo ảnh vụt tang biến. Mặc dù sợ hãi, nhưng Nadia cũng gắn sức để giữ cho được vẻ ngoài thật bình thản. Từ từ ngẩng đầu lên, nàng nhìn chăm chú vào người khách trẻ, nhỏ nhẹ nói:
− Đáng lẽ tôi có thể làm cho bà thỏa mãn bằng một câu trả lời phù hợp với mong muốn của bà nhưng tiếc thay, tôi chẳng nhìn thấy gì hết. Đôi khi những quân bài cũng im lặng.
− Như vậy có nghĩa là tôi sẽ không bao giờ trở thành quả phụ?
− Nếu chuyện xảy ra ngược lại thì mới làm cho tôi ngạc nhiên.
− Một ngày nào đó tôi sẽ lại tới dể cho bà biết rằng bà đã nhầm và chẳng hiểu gì về nghề của mình! Cảm tưởng tốt ban đầu của tôi đối với bà không còn nữa, danh tiếng của bà được đánh giá quá cao, chủ yếu là dựa vào những quảng cáo rùm beng trên báo chí mà bà còn táo tợn trưng cả chân dung có vẻ uốn éo của mình lên để hòng câu khách! Làm như khuôn mặt của bà có thể làm cho mọi người chú ý! Người ta đến hỏi bà về quá khứ, vị lai đâu phải để chiêm ngưỡng vẻ ngoài của bà và duy nhất để nghe bà ăn nói ra sao. Nhưng tiếc thay bà chỉ làm cái việc dối trá đó cũng như các đồng nghiệp của bà! Tất cả những điều bà tưởng khám phá được về tôi thì tôi biết tỏng từ lâu rồi vì chính đó là bản chất của cuộc đời tôi.
− Ít ra thì bà cũng chiêm nghiệm thấy hai đều: tôi chỉ nói lên sự thực và, khi không thấy gì cả thì tôi im lặng… Còn “nhân vật kia” – người đàn bà đó nhất định sẽ xen vào phá hoại dự định của bà, bà thật không ngờ có phải không? Thế mà có đấy! Chính người đó sẽ quấy rầy bà… Duy nhất chỉ vì người đó mà bà không được toại lòng mãn ý. Cho đến lúc này, tôi khẳng định bà sẽ không từ một kế hoạch nào để ngăn chặn bàn tay tội ác của bà ta. Nhưng với bà ta lại là một chuyện khác! Bà ta cũng mạnh không kém gì bà đâu nhưng tôi nhắc lại lần cuối cùng là hoàn toàn không giống như cách hiểu của bà: cái sức mạnh sở dĩ bà ta có được là nhờ vào một tình yêu đích thực trong tim mà ở bà thì không bao giờ có. Tất nhiên, khi gặp bà, một người đàn ông có thể bị mê mẩn vì ham muốn nhưng rồi mau ***ng được đều hòa vì cái tội duy nhất của bà. Sẽ có hai tình cảm đồng thời xuất hiện: ngờ vực và e ngại… những tình cảm đó không bao giờ chung sống được với tình yêu.
− Tôi phải trả bà bao nhiêu đây?
− Lần này thì không phải trả gì cả. Tôi không muốn nhận tiền của ai một khi họ không được thỏa mãn trong quẻ bói. Xin chào bà.
Vị khách bước ra cửa không nói một lời.
Bà Vêra lại xuất hiện với vẻ băn khoăn:
− Cái gì đã xảy ra vậy? Cháu có nghe tiếng sập cửa của bà ta ở phòng ngoài không?
− Đó là cách lẫn tránh của những kẻ yếu. Họ cứ tưởng gây ra tiếng động mạnh là sẽ cho họ sức mạnh.
− Tại sao vậy? Hôm nọ cháu chả đã nói với bà là người phụ nữ này có thể rất nguy hiểm ư?
Cháu cảm thấy trong người thế nào?
− Khá hơn nhiều bà ạ. Bà cho người khách tiếp theo vào đi.
− Bà nói trước cho cháu hay: bà ta thật xấu xí.
− Ở vẻ ngoài ư? Còn tâm hồn bà thấy sao? Chắc là rất đẹp phải không ạ?
− Cháu là một cô gái lạ kỳ. Nadia bé bỏng ạ.
− Và bà là một người bà đáng kính nhất! Về người đàn bà vừa ra khỏi đây một cách ầm ĩ ấy, cháu có thể nói trước với bà thế này: mặc dù tất cả những lời chị ta nói với cháu, nhưng cháu thực sự ngạc nhiên nếu chị ta trở lại! Đó là đều cháu mong muốn.