XtGem Forum catalog

Wap đa chinh thuc chuyen sang dia chi moi

CLICK VÀO ĐÂY - TRANG CHỦ Www.HaiPhongWap.Net

Haiphongwap.net

Wap tai game cho dien thoai, Tai Hack avatar, Hack nam quoc son ha, hack khu vuon dia dang mien phi

HAIPHONGWAP.NET

Haiphongwap.net - Wap tai game cho mobile
Haiphongwap.net - Wap tai game cho mobile, Tai Hack avatar, Hack nqsh, kvdd mien phi - Haiphongwap.net

- Game Ai Là Triệu Phú bản 2012 online tiếng Việt
- Game Half life CS 1.3.6 cho mobile
- Phần mềm diệt virus cho điện thoại
trang wap doc truyen sex hay, tai mien phi game anh sex, phim sex cho dien thoai
Havanphu.Wap.Sh
Home | Clip 3x | Game
Tải Ola ken, phần mềm chát sex Ola kul cho điện thoại
Game Đột Kích dành cho mobile giống trên PC
Game Angrybirds bản java cho s40
Hack Avatar 193 auto mod full ghép x2 max speed
PM Chụp ảnh xuyên quần áo (Hot)
Kho game Việt hóa, Online chọn lọc cực hay
Opera độ nén file cực cao, tiết kiệm GPRS tối đa
Game Boom giống Vinagame trên PC
Avatar hack tự động làm nông trại
Tải game cho điện thoại miễn phí

Trang Chủ
Truyện ma có thật

Ở làng Vạn Yên, dòng họ ông Đào Ngọc Phú là gia đình duy nhất có nghĩa trang tư thành hình cách đây đã ba thế hệ. Người ta kể rằng lúc ông nội của ông Phú còn ngồi ghế quan huyện đã dùng thế lực để mua lại cơ ngơi của một gia đình lân cận giáp ranh phía sau nhà ông rồi cho san bằng, và lập nghĩa địa riêng, dặn con cháu là khi ông xui tay nhắm mắt thì an táng ấy là miếng đất có long mạch tiềm ẩn. Dòng họ Đào Ngọc sẽ tiếp tục phát thêm được mấy đời nữa.
Khu nghĩa trang ấy nằm vào khu đất trũng, có hàng rào gỗ bao bọc. Quanh năm âm u vì lũy tre già rũ xuống che phủ. Lại thêm cây đa cổ thụ mọc bên hông, tàn lá ngăn hết ánh sáng mặt trời, khiến những ngôi mộ nằm trong đó trông càng lạnh lẽo. nhất là những buổi sáng mờ sương hay những khi chiều tối.
Nhưng có lẽ thầy địa lý đoán sai, cho nên hai ba thế hệ kế tiếp nhau, dòng họ Đào Ngọc cứ xuống dần, thoái Quan vi dân về làm ruộng. Gọi là xuống, nhưng ruộng đất còn rất nhiều, so với đại đa số dân làng thì họ Đào Ngọc vẫn thuộc hàng ăn trên ngồi tróc, vinh hoa phú quý hơn đời.
Chỉ có điều làm ông Phú không hả dạ là vì trong thâm sâu, ông mê làm Quan. ông thích chức quyền để dược nể sợ, chứ không muốn chỉ làm người phú hộ. Tuy giàu mà thiếu cái oai phong, hách dịch. ông bỏ thời gian đi tìm thầy địa lý mãi trên cao bằng, đón về để coi khu nghĩa địa sau vườn, và kể rõ câu chuyện ông nội làm Quan năm xưa, hy vọng là có thể nhờ thầy xoay chuyển lại số mệnh, tái lập con đường hoàng lộ lại cho ông và con cháu.
Nhưng thầy coi xong thế đất rồi bảo:
- Vận số của ông chỉ được đến thế thôi, như vậy cũng được đại phúc lắm rồi. Tương lai hung khiết chưa biết thế nào, cần phải thi ân bố đức cho thật nhiều. Nhân đã dạy là Tiên tích đức, hậu tầm long. Xưa Cao Biền thời Đường bên Tàu sang cai trị nước ta, xây thành Đại La, dùng phép phong thủy để yểm chấn những nơi có long mạch, hòng làm cho dân Nam mỗi ngày một suy yếu, không vùng lên được. Phép yểm buà của Cao Biền hiểm hóc lắm, giết đứa con gái 17 tuổi, moi hết ruột gan, nhồi cỏ vào bụng, rồi cho mặc quần áo màu vàng, giả làm Thần Linh để đánh lừa Thần Núi Tản ở nước ta. Phép ấy thì tôi cũng có thể làm được để xoay chuyển vận số cho ông. Nhưng xét ra ác động và tội âm đức lắm. Con cháu về sau sẽ phát cuồng, mà đi ăn xin tha phương cầu thực.
ông Phú nghe xong, thở dài não ruột, chia tay ông thầy địa lý, rồi ông ra phía trang sau nhà thắp nhang khắp lượt, con mèo đen thoăn thoắt chạy theo, con mèo này ông nuôi từ khi mới đẻ, lúc nào cũng gắn bó không rời ông. ông buồn rầu nhìn gần 20 ngôi mộ xây cùng kích thước. Phần lớn lớp xi măng bọc ngoài đã lên riêu xanh mốc. Người lạ đến nhà ông bất chợt ra vườn sau, nhìn thấy những ngôi mộ san sát ấy, thường khó tránh khỏi cái cảm giác rờn rợn bao phủ. Nhưng với cả nhà ông thì đã quá quen mắt từng ngày, nên chẳng bao giờ bận tâm đến. Thậm chí có những đêm trăng mờ, lũ con ông còn dám rủ nhau ra, chọn một ngôi mộ bằng phẳng, leo lên ngồi cầu cơ gọi hồn về để hỏi chuyện tương lai. Thầy địa lý đi rồi, bà Phú ngước mắt nhìn chồng và nhắc lại:
- Thầy nói đúng lắm đó ông à! Mình được như thế này là quý lắm rồi. Phúc đức tại tâm, Thầy bảo phải thi ân bố đức, thì cứ nghe lời thầy mà làm. Từ nay, giúp được ai cái gì thì mình cứ giúp ; ông đừng có đón Thầy về nữa, tốn phí mà chẳng có lợi lộc gì. Theo tôi thì, cứ ăn ở cho phải đạo là tốt hơn cả.
ông Phú nhíu mày gắt nhẹ:
- Bà nói chuyện hay nhỉ? Thi ân bố đức thì lúc nào mà tôi chả rộng rãi hơn người? Cái dạo vỡ đê năm thìn, không có tôi bỏ tiền cứu lụt ở làng này, thì cả làng không có đủ đất mà chôn người chết, bà quên rồi hay sao? Rồi cái dạo năm Dậu bị hạn hán, củ chuối củng không có mà ăn, dân làng chết như rạ. Nửa năm trời tôi xuất kho phát chẩn cứu bao nhiêu người đều không là thì ân bố đức hay sao?
Bà Phú dè dặt góp ý:
- Hời... Nói của đáng tội, tiền của ông nội nhà mình thì đều là....là... 
- Đều là thế nào? Có phải bà định bảo là tiền của phi nghĩa, bóc lột của người nghèo có phải không? Tôi cấm bà mở miệng nhắc đến việc ấy. Nghe lời những quân mất dạy ở ngoài đường.
Bà Phú nhẫn nhục phân trần:
- Sao mà cứ động một tí là ông cứ mắng tôi? Tôi là tôi vì ông, vì các con, nên mới bàn góp cho ông vài lời, chứ tôi có muốn nói ra làm gì? Tôi chỉ nhắc lại lời thầy địa lý bảo là mình phải làm phúc. ông cứu lụt rồi ông phát chẩn thì tôi quên làm sao được? Chính tôi cùng với người làm gánh từng gánh cơm ra đê cho người ta ăn mà. Rồi tôi múc cơm rồi tôi phát vải ra cho dân nghèo. ông tưởng tôi không nhớ hay sao? Nhưng mà ông ạ! Những việc ấy mình làm là vì lúc ấy ông định ra tranh cái ghế nghị viên, cần mua cảm tình của thiên hạ chứ không phải là vì lòng tốt đâu ông? Mình thì mình lừa người được chứ mình che mắt Thánh thế nào được?
ông Phú tái mặt quát lớn:
- Bà câm đi! Bà vào nhà này bưng bát cơm đầy, kẻ hầu người hạ, ăn trắng mặc trơn. Không nhớ ơn thì thôi, lại còn giở giọng bạc bẻo.
Bà Phú sợ quá vội lủi thủi bỏ vào nhà. Bà ngẩm nghĩ lại chuổi ngày dài đăng đẳng sống với chồng, sinh cho chồng bốn đứa con: hai trai, hai gái. Quả thực, miếng cơm manh áo thì bà chưa bao giờ phải bận tâm dù gia cảnh có sa sút đôi chút so với thời trước. Nhưng hai vợ chồng có những khác biệt quá sâu đậm về tính tình mà luôn luôn bà phải chịu đựng. Bà hiền lành bao nhiêu thì hình như ông Phú là người mang ác tính bẩm sinh.
Anh bếp Nhỡ ở với gia đình bà gần 10 năm, một hôm ăn cắp mấy đấu gạo mang về cho Mẹ già, bị cô con gái bắt gặp tri hô lên. Với bà Phú thì chuyện ấy nhỏ nhặt quá, chẳng có gì phải làm lớn. Bà gọi anh lại và mắng:
- Này, mày dốt vừa vừa thôi! Mày cần gạo sao không bảo tao một tiếng? Lần sau mà giở cái thói ăn cắp là chết với tao đấy nhé.
Bà nạt cho có lệ thôi, chứ bà biết Nhỡ hiền lành. Lấy trộm gạo là điều bất đắc dĩ. Nhưng không may cho Nhỡ là ông Phú ở trên nhà nghe thấy, ông gọi Nhỡ lên, phang cho mấy gậy gần què chân rồi đuổi thẳng, bà Phú xin mải cũng không được. ông bảo:
- Nuôi thứ ấy trong nhà thì thế nào cũng có ngày nó làm nội ứng dắt cướp vào. Đuổi nó đi, cẩn tắc vô ấy náy
Bà Phú dúi cho ít tiền và bảo Nhỡ mang về nhà cho mẹ già và dặn hễ khi nào túng quẩn quá, không biết trông vào đâu, thì tìm cách gặp riêng bà, bà sẽ giúp đỡ. Những việc nhân đức bà làm ngoài sự thúc đẩy tự nhiên do bản tính trời sinh, bà còn muốn thực hiện để phần nào trả nợ cho chồng, trả cái nợ do những hành vi bất chính và nhẩn tâm của ông Phú. Bà không phải là người sùng đạo của bất cứ tôn giáo nào, nhưng bà tin một cách đơn giản rằng: làm lành thì hưởng phước, gieo gió thì ắt có ngày gặt bảo.
Trước đó ông Phú có mối thù với ông Kháng Lạc chỉ vì tranh nhau mua lại mấy sào ruộng chiêm ở đầu làng. Việc chưa ngã ngủ, ông Phú cho người nhà nữa đêm lẻn đến nhà ông Lạc, ra lũy tre bên hông, dấu mấy chai rượu lậu và đồ nghề gần bờ ao rồi báo Tây đoan về bắt. Quả nhiên cái tết năm ấy, ông Lạc đi tù với đầy đủ tang vật: Cái nồi đồng ba mươi lưng lửng bá rượu, thúng gạo nếp đã vo sẳn, cái trỏ và hai cái bong bóng trâu. Toàn những thứ chỉ dùng cho việc nấu rượu.
Bà Phú biết việc này, nhưng không dám lên tiếng trách chồng, chỉ thở dài vì thấy chồng làm những điều thất đức quá. Bà lo cho đàn con mai sau phải gánh chịu hậu quả bởi bà vốn tin vào luật vay trả, vào thuyết quả báo. Con cái nhờ đức của cha, bà thường nghe nói thế, nên bà rất sợ cho hai cô con gái của mình.
Bốn đứa con của bà, Long đã có vợ hai con cũng ở ngay trong làng. Kim mới lấy chồng chưa có con, ở khác làng nhưng cùng tổng, cách một cánh đồng ngô. Còn con gái thứ ba là Nhàn và cậu út Hoành đang ở chung với bố mẹ. Gia đình như thế thì kể củng là ít người bởi căn nhà cổ kính truyền đã ba đời của ông Phú thuộc loại đồ sộ, tường xây mái ngói, cột gỗ lim, trông oai phong và vĩ đại lắm. Một cơ ngơi rộng rãi như vậy mà chỉ có hai vợ chồng, hai đứa con, thêm chị người làm và con mèo là hết.
Chị người làm ở với ông bà Phú đã 20 năm còn con mèo đen thì ông Phú nuôi từ khi mới đẻ đến nay đã lớn lắm, người ta cứ gọi nó là con cò con. Con mèo gắn bó với ông Phú, đi đâu nó cũng theo đấy, thậm chí ban đêm nó cũng chui vào buồng ngủ với ông. Ít khi thèm đi rình bắt chuột.
Làng Vạn Yên phần đông là người nghèo, mái tranh vách đất san sát bên nhau càng làm nổi bật căn nhà đồ sộ của ông Phú truyền từ đời ông nội để lại. Nhà dựng trên nền cao, mái ngói rêu phong cổ kính, với những cây cột gỗ lim đỏ thẳm, càng làm tăng thêm vẻ nghiêm trang và tăng thêm cái uy thế cho gia chủ mỗi khi người làng khúm núm đến vay nợ.
Nghề cho vay lãi cắt cỗ giúp cho ông Phú đã giàu thêm, bà Phú thường vẩn giấu chồng giảm tiền lời hoặc rộng lượng xí xóa mỗi khi con nợ gặp phải túng bấn,không trả nổi. Riêng ông thì một xu cũng không bỏ qua. Trong cái cơ ngơi khoảng khoắc ấy, gia đình ông Đào Ngọc Phú rất thanh thản, chẳng những vì của cải dư thừa mà vì các con đều ngoan ngoãn. Riêng bà Phú lại càng cảm thấy hạnh phúc vì Long đã cho bà hai đứa nội kháu khỉnh. Còn Kim tuy chưa có con, nhưng lấy dược chồng hiền, và cho đến nay thì gia đình chồng cũng tỏ ra quý dâu, chứ không hành hạ như nhiều gia đình khác ở làng Vạn Yên.
Bà tin rằng đó là do cái phúc mà đã tạo được quua những việc từ thiện. Nhưng chồng bà thì khác, mỗi khi nghe vợ khen bên thông gia đối xử tử tế với con gái ông, ông đều vênh mặt hiu hiu tự đắc nói:
- Họ sợ cái uy của tôi chứ tử tế cái gì? Bố bảo tụi nó cũng chẳng dám động đến cái Kim nhà này.
Bà Phú nén tiếng thở dài, cố đè nén nổi bực mình để khỏi cãi lại.
Cuộc sống đang bình thường như dòng nước êm trôi. Chỉ một buổi sáng tinh mơ, cả nhà chưa ai thức giấc, gà trong thôn chưa gáy tiếng thứ nhất. Bổng con mèo đen đang nằm thiu thiu trên cái ghế bên cạnh giường ông bà Phú, chồm lên lao vọt qua cửa sổ và kêu thét liên hồi, và cùng với tiếng thét ngân dài ấy, con mèo chạy vùn vụt trên mái ngói, vụt phóng xuống trước sân, gầm gừ rên rỉ như giận dữ. Mèo cắn nhau kêu lên là chuyện thường, nhưng bổng ông bà Phú nghe gõ cửa. Bà Phú giật mình ngồi nhổm dậy, quay đầu ngó qua khe cửa sổ, thấy trời còn tối lắm. Tưởng chồng chưa thức, bà rón rén bước xuống, không muốn làm mất giấc ngủ của chồng, bà vừa vấn tóc, vừa cằn nhằn nho nhỏ:
- Đứa nào mà gỏ cửa sớm thế này?
Nhưng ông Phú cũng đã dậy ngay từ lúc con mèo lao ra cửa sổ, ông định nhân tiện đi tiểu, nên bảo vợ:
- Bà cứ nằm đây, để tôi xem đứa nào mà dám đánh thức tôi với bà vào giờ này?
Trong thâm tâm, cả hai ông bà yên chí là chị Thuần, người giúp việc lâu năm của gia đình này hằng đêm ngủ dưới bếp, sáng nay bẩm báo việc gì gấp hoặc một trong hai đứa cởno buồng bên kia có chuyện phải gặp bố mẹ. ông xỏ guốc, đứng dậy tiến ra tháo then cửa. Trời mờ tối, lại dày đặc sương mù, ông mở to cặp mắt, chưa kịp lên tiếng thì giật mình ngạc nhiên thấy một đứa bé gái khoảng ba tuổi đứng dưới sân trong vùng sương mờ ảo, không trông rõ mặt. Con bé chià tay xin:
- Ông... ông làm ơn cho con nắm cơm... Con đói quá!
Đứa bé đứng ngay trước mặt ông, cách có mấy bước, nhưng giọng nói nghe âm vang xa lạ quá, như từ chốn thăm thẳm nào vọng về ; ông bực mình quát lớn theo thói quen hống hách của mình:
- Con cái nhà ai đi ăn xin nữa đêm thế này? Xéo ngay! Làm mất giấc ngủ của ông. ông lại vả cho mấy cái bây giờ.
Mặc cho phản ứng dữ tợn của ông, đứa bé vẫn đứng im ngước lên nhìn ông như thoát tục, mặt nó trắng toát, đôi mắt trừng trừng, nhìn ông đăm đăm. Khiến chỉ vài giây sau, ông đã mất hẳn bình tỉnh, và như có luồng gió lạnh buốt bất chợt thổi ập vào người, làm ông lẩy bẩy run sợ. Đứa bé lập lại bằng giọng sâu thẳm hơn:
- Con..Con đói quá, xin ông làm phúc cho con bát cơm.
ông Phú đứng á khẩu tại chỗ, mồm há ra, mắt tự nhiên lạc thần. Vừa lúc ấy có giọng nói đàn bà từ cổng đưa vào:
- Con ơi! về con ơi! Về với mẹ con ơi!
ông Phú kinh hãi nhìn ra cửa, thấy một người phụ nữ mặc đồ trắng toát, đứng tuốt ở cuối sân, sát cái cổng xây nhà ông giơ tay vẫy vẫy. Khoảng cách khá xa, lại gặp màn sương đục, ông không trông rõ mặt, chỉ thấy mái tóc dài đen nhánh phủ xuống vai nổi bật trên nền áo trắng. Ông còn đang ngơ ngác, mất thần thì con mèo đen từ lưng sau lao vụt xuống bên ông kêu thét lên, đôi mắt nó lông lên sòng sọc và nhe hàm răng nhọn hoắt ra gầm gừ, muốn lao lại vồ đứa bé. Hai chân với những móng sắt dài, nó cào liên tiếp trên nền gạch. ông Phú nghe rõ tim mình đập thình thịch như sắp phá vỡ lồng ngực. Thoáng trong chớp mắt, ông không còn thấy đứa bé nữa. ông ngước nhìn ra xa, thì hai cái bóng trắng ấy đã ra tuốt ngoài cuối sân,đang dắt tay nhau bước ra khỏi cổng nhà ông, và mất hút ở khóm tre bên đường.
Cả lúc sau, ông mới định thần, chập choạng bước lui vào nhà, miệng ú ớ kêu:
- Bà, bà ơi! bà..bà... bà ra ngay đây..bà ơi!
ông lùi hẳn vào bên trong, đóng ập cánh cửa lại, bà Phú từ trên giường bước xuống ngạc nhiên hỏi:
- Ủa cái thuần nó cần cái gì mà nó gọi sớm thế?
ông Phú run rẩy ngồi xuống giường lắc đầu lia lịa, một lúc sau ông mới lấy lại chút bình tỉnh bảo:
- Không! không phải cái Thuần.
- Ơ... không phải cái Thuần thì đứa nào mà gõ cửa sớm thế? Con Nhàn hay thằng Hoành?
ông Phú nắm chặt bàn tay vợ, còn bàn tay ông thì lạnh toát như nước đá, ông thở hổn hển bảo vợ:
- Bà... bà ra xem nó có còn ở ngoài ấy không?
Bà Phú không hiểu gì chỉ biết từ ngày về với ông Phú, hiếm thấy khi nào ông như thế này. Bà hỏi lại:
- Đứa nào mới được chứ?
- Đứa bé con.
Bà Phú càng ngạc nhiên:
- Đứa bé con nào? Nhà này làm gì có trẻ con?
- Không... biết con nhà ai mà nó đi xin ăn.
- Khổ thân! Ăn xin mà vào giờ này? Nhà này thiếu gì cơm nguội. Sao ông không cho nó một bát? thôi được, để tôi xuống bếp, tôi bảo cái Thuần nó lấy cho nó vậy.
Dứt lời, bà bước nhanh ra cửa, bởi vì bà vốn có lòng từ tâm. ông Phú nói với theo:
- Ừ... bà ra xem nó có còn ngoài sân không?
Rồi ông ngồi trố mắt nhìn theo, hồi hộp chờ đợi. Mở cửa, con mèo đen lao vụt vào, nhảy lên cái ghế thường của nó. Đêm tối, đôi mắt nó nhìn đăm đăm như hai ngọn lửa loé sáng có pha chút xíu màu đỏ. Bà Phú bước hẳn ra thềm, đứng nhìn quanh khắp sân và hai bên hiên, nhưng không thấy đứa bé nào cả. Bà nhướng mắt, cố phóng tầm nhìn ra phía cổng vì sương sơm dày đặc quá. Bà đứng trên thềm, quay đầu nói vọng vào:
- Có cái đứa nào đâu? Già trẻ lớn bé, chả có thấy ai hết. ông chỉ trông gà hóa cuốc, chứ có ăn mày nào mà dám vào nhà mình giờ này?
ông Phú lo lắng nói vọng ra:
- Không có ai thì bà vào đi. Bà vào rồi khép cửa lại.
Bà Phú làm theo lời chồng, trở vào giường nằm. Nhưng ông Phú bảo bà thắp cho ông ngọn đèn vặn lớn đặt trên cái bàn giữa nhà rồi vào nằm bên ông. Bà thấy rõ toàn thân ông Phú vẫn còn run lên bần bật từng cơn, ông kéo tấm chăn mỏng phủ lên tới cổ và mắt mở trừng trừng ngó lên trần. Bà Phú lấy làm lạ là tự dưng ông Phú chống bà lại đòi thắp đèn, bình thường khi đi ngủ, ông không chịu được ánh sáng dù chỉ một ngọn đèn leo lét dựng trên bàn thờ, ông cũng bắt che lại, đừng để lọt vào mắt ông. Có đèn ông không ngủ được, ông thường lập đi lập lại như thế!
Bà Phú xoay về phía ông, đưa một tay đặt lên trên trán, và lần xuống cánh tay, và bàn tay ông, thấy chỗ nào cũng lạnh toát, bà lo lắng hỏi:
- Sao mà lạnh hết lên thế này? Trời muà hè mà sao lạnh rét lên thế này?
Bà nghe thấy rõ hai hàm răng ông đập vào nhau lách cách như đi ngoài tời muà đông, gặp gió bấc thổi mạnh, bà đăm chiêu hỏi:
- Ông ơi, ông thấy trong người như thế nào? hay là lúc nãy ông mở cửa ra thì gặp luồng gió độc? Thôi cứ nằm yên đấy đi, tôi lấy lá dầu không tôi hơ lửa, tôi đánh gió cho ông nhé!
ông Phú lắc đầu, cố nói bằng giọng điềm tỉnh hơn:
- Có gì đâu! Nhưng mà bà nhớ là cả bà và tôi cùng nghe thấy tiếng gõ cửa, có phải không nào?
- Đúng rồi, tôi còn nghe thấy trước ông nữa kia mà. Tiếng con mèo nhà mình nó kêu trước rồi tiếng đập cửa sau.
ông Phú chậm rãi kể:
- Ừ! Bà làm chứng đấy nhé, rõ ràng là có tiếng gõ cửa. Tôi ra mở cửa thì thấy có đứa bé con đứng ở dưới sân chià tay xin cơm, da nó trắng xanh như con nhà giàu mà lại đi ăn xin vào giờ này, thế có lạ không? Tôi đuổi nó đi, thì nó cứ đứng im nhìn tôi, rồi tôi bổng nhiên lạnh buốt. Tháng này làm gì có gió lạnh?
ông đang nói dỡ câu thì bổng con mèo lại tru lên và lao xuống đất. Lần này nó không phóng qua cửa sổ phía sau mà chồm lên, cào mạnh trên cánh cửa ra vào, nhe răng gầm gừ liên tục. ông Phú đang nói, quay mặt lại, nắm chặt cánh tay vợ, trố mắt nhìn theo con mèo. Vài giây sau quả nhiên có tiếng gõ cửa, ông Phú toan hét lên vì kinh sợ, nhưng ông nằm bất động, níu cánh tay vợ thật chặt. Tiếng gõ càng thôi thúc khiến con mèo chồm lên gào cánh cửa, tiếng gầm gừ càng thảm thiết hơn, ông run lập cập bảo bà:
- Nó... nó... nó đấy bà, nó chưa đi đâu.
Bà Phú gỡ tay chồng ra và bảo:
- Ra cho nó bát cơm để nó đi. Rõ lẩn thẩn! Đêm hôm khuya khoắt thế này nó vào đây xin bát cơm, chả lẻ đuổi nó đi à? Thôi được rồi, ông cứ nằm im đó đi. Tôi xuống bếp lấy cơm cho nó.
Bà tuột nhanh xuống giường, xỏ guốc đi ra. öng Phú ngồi bật lên, trố mắt nhìn theo chờ đợi. Bà Phú vừa tháo then ngang, vừa nói lớn:
- Đứa nào đập cửa đấy? Từ từ rồi tao mở, làm cái gỉ mà inh ỏi lên thế?
Rồi bà mở rộng cánh cửa gỗ, con mèo liền đi ra, nhưng chỉ vài giây sau bước vào, nhẹ nhàng nằm khoang thai bên ông Phú. Bà Phú bước ra thềm, ngạc nhiên chẳng thấy ai. Bà đứng trên hiên, nhìn ra phía cổng, cũng chẳng thấy bóng người nào. Bà bực mình hỏi lớn:
- Đứa nào đập cửa nhà bà đấy?
Không có ai đáp lại, bà buột miệng nói:
- Lạ nhỉ? Rõ ràng là vừa đập cửa cơ mà, biến đi đâu mà nhanh thật đấy? Này này, con cái nhà ai mà nghịch như quỷ thế hả? Bà mà túm được là mày chết với bà đấy!
Bà đứng thêm một lúc rồi vén mùng quay vào nằm bên chồng, ông Phú hồi hộp hỏi:
- Bà có thấy đứa bé không?
- Có thấy gì đâu?
- Ơ! Mà rõ ràng cả hai lần nó gõ cửa bà đều nghe thấy chứ đâu phải là tôi ngủ mê! Lần trước tôi ra, thì nó đứng ngay trước mặt tôi, bận này bà ra thì lại không thấy, thế này là thế nào?
Cả hai cùng im lặng vì cả hai không tìm ra được câu trả lời, một hồi ông Phú hạ giọng nói như tự hỏi:
- Chả biết là người hay là ma?
Bà Phú đáp ngay:
- Ma với quỷ cái gì? Chắc đứa nào nó trêu mình!
Tuy bà nói thế nhưng lòng bà bắt đầu thắc mắc, vì bà biết làm gì có đứa nào dám trêu chọc bà ở giữa khuya khoắt như thế này? Ban ngày còn chả dám huống chi là ban đêm. Đắn đo một chút bà hỏi:
- Mà này ông! Thế ông thấy đứa bé thật à? ông có chắc không đấy?
ông Phú gắt nhẹ:
- Bà ơi, tôi ngần này tuổi. Cả đời có biết ma là cái gì đâu. Nhưng mà hôm nay... hôm nay thì tôi thấy lạ lắm....
Bà Phú ngắt lời:
- Tôi thì..tôi chỉ sợ ông ngáy ngủ, mắt nom không rõ thôi. Chứ ông nghĩ mà xem ăn xin gì... chả ai ăn xin vào lúc nữa đêm như thế này! huống hồ trẻ con thì giờ này ngủ say như chết ấy, lay không dậy nổi chớ đừng nói là giờ này lang thang ngoài đường!
ông Phú càng kinh sợ qua những lời vợ ông vừa nói thì rõ ràng là ma chứ không phải là người. Bà Phú bổng nhổm dậy, bước nhanh xuống giường, ông Phú hốt hoảng hỏi:
- Bà đi đâu đấy?
Bà Phú vừa xỏ guốc vừa đáp:
- Tôi đi gọi cái Thuần
Bà mạnh dạn bước ra tháo then cửa, khe khẻ hé mở, tiếng bản lề để lâu ngày rỉ sét, kêu lên kèn kẹt. bà mở to mắt nhìn xa xa, dĩ nhiên không thấy ai, sương vẫn dày đặc trong không gian mờ tối. Bà bước hẳn ra, đứng lại một lúc trên thềm không thấy động tỉnh gì, bà mới đi nhanh xuống bếp và gọi:
- Thuần ơi!
Chị người làm nằm trên cái giường kê sát cửa bếp, ngồi dậy vấn tóc và đáp:
- Ớ! Bà gọi con ạ? Có việc gì sớm thế ạ?
Bà Phú ngồi xuống bên cạnh và hỏi:
- Này, tối ngày hôm qua mày quên đóng cửa phải không?
Chị Thuần quả quyết:
- Ấy chết! Sao bà nói thế ạ? Con đóng cổng, cài then cẩn thận lắm, quên làm sao được ạ? Có cô Nhàn làm chứng, lúc đó cô con vừa tắm ở dưới ao lên, đi ra cổng cùng với con. Bà không tin thì hỏi cô con là biết ngay ấy.
Bà Phú ngồi thừ người im lặng, chị người làm sốt ruột hỏi thêm:
- Có cái gì thế bà? Có việc gì thế bà? Trộm vào nhà mình hở bà? hay là có chuyện gì không? Bà làm con lo quá bà ạ!
Bà Phú không muốn để chị người làm kinh hãi, sợ chị sẽ kể với hai đứa con, cho nên bà đứng dậy và bảo:
- Không, tao chỉ hỏi thế thôi!
Rồi bà bước ra sân, vừa đi vừa nhìn xung quanh một lần nữa.
ông Phú vẫn nằm nhắm mắt trên giường, nghe tiếng chân vợ vội lên tiếng:
- Bà kể với cái Thuần ấy à?
- Không, tôi chỉ hỏi nó là tối hôm qua nó có đóng cổng hay không thôi.
- Rồi nó bảo sao?
- Nó quả quyết là nó có đóng, có cả cái Nhàn ra cùng đóng cổng với nó.
Dứt lời, bà mén vùng chui vào, ngả người nằm xuống và nói bâng quơ:
- Lạ thật đấy, tôi thì tôi vẫn cứ cho là ông quáng gà chứ làm gì có đứa bé con nào?
ông Phú đã bình tĩnh trở lại, ông gắt nhẹ:
- Ừ thì cứ cho là tôi nhìn lầm đi. Nhưng cả hai lần nó gõ cửa, bà đều nghe thấy, chứ nào phải riêng tôi? hỏi bà ai gõ mới được chứ? Đây nhé, vừa nghe tiếng gõ cửa bà chạy ra ngay lập tức, mà không thấy ai, tôi hỏi bà cái sân nhà mình nó trống hốc ấy. Giả như có đứa nào nó cố ý trêu tôi với bà, thì nó núp vào đâu?Nó vừa gõ cửa, bà ra ngay cơ mà! Người mà chạy nhanh đến thế hay sao? Bà thử nghĩ xem!
Nghe những lời phân tích ấy, bà cho là chồng hoàn toàn có lý, buộc miệng nói theo:
- Ờ, sân nhà mình thì làm gì có chỗ núp ông nhỉ?
ông Phú càng tin là mình đã gặp ma, rồi từ đó hai người im lặng nằm bên nhau, mỗi người theo đuổi một ý nghĩ. Mãi cho đến khi gà trong xóm rộn rã gáy khắp lượt, tiếng bước chân, tiếng nói chuyện huyên náo của dân làng kéo nhau ra đồng trên con đường đất rộng chạy ngang trước nhà. ông Phú mới mệt mỏi ngồi dậy ra thềm đứng nhìn khoảng sân gạch đang sáng dần trong ánh bình minh.
Mặt trời lên, làm ông thấy tỉnh táo hẳn, không còn sợ hãi như trong đêm. ông bước xuống sân thong thả đi ra cổng, và quả nhiên thấy cánh cổng vẩn còn khép kín, cài then trong với chiếc khóa đồng to bản vẩn nằm im ở vị trí thường lệ. Nhà ông từ mấy đời vì của cải khá nhiều nên xây tường bao quanh, và đêm đêm bao giờ cũng đóng then để đề phòng trộm cắp. Cổng khóa có nghĩa là người lớn không hề vào được, huống hồ là đứa con nít ba bốn tuổi. ông thơ thẩn quay vào, đi quanh một vòng.
Mặt trời lấp ló sau rặng tre, chiếu những tia nắng ban mai rực rỡ, in bóng ông chạy dài in trên nền gạch. ông bước lên hiên, uể oải ngồi xuống bậc thềm ngay chỗ sáng nay ông đúng nói chuyện với đứa bé lạ mặt. Con mèo đen lấm lét bước theo, rồi leo lên nằm trên đùi ông.
Bà Phú từ dưới bếp đi lên bưng khay trà toan bước vào nhà để đặt lên bàn cho chồng như thường lệ. Nhưng ông Phú vẫy bà, chỉ tay xuống sân và nói:
- Chỗ này nè bà! Nó đứng ngay chỗ này này.
Bà Phú đặt khay trà trên hè và cũng ngồi xuống bên cây cột gỗ lim. Bà lật hai cái cốc thủy tinh rồi rót nước trà, hơi nóng bốc lên nhè nhẹ. ông Phú có thói quen sáng thức dậy là phải uống ngay một cốc nước trà thật nóng và thật đặc trước khi ra hông nhà bếp xúc miệng rửa mặt. Nhìn nét ưu tư trong ánh mắt chồng, bà Phú tự hỏi:
- Hay là thật sự có đứa bé hàng xóm nữa đêm lẻn vào chọc ghẹo, cốt để làm cho vợ chồng bà sợ? Trẻ con làng này thì có thiếu gì đứa quấy phá thiên hạ.
Nghĩ thế, bà hỏi:
- Này, nó... nó... con cái nhà ai? ông thấy mặt mũi nó ra làm sao? ông có nhớ nó không?
- Nào tôi có biết. Bây giờ nghĩ lại tôi thấy chắc một điều là nó không phải là đứa bé ăn xin. Con nhà ăn mày làm gì có quần áo trắng tinh như thế! Với lại bà nói đúng, bố mẹ nào mà xui con đi ăn xin mà lại đập cửa nhà người ta giữa nữa đêm như thế. Người ta đánh cho què chân chứ lị!
Tất cả những nhận xét của ông Phú, thật ra bà Phú đã nghĩ đến từ nãy đến giờ, nhưng không muốn nói ra sợ làm chồng càng thêm sợ, bà chỉ khẻ gật đầu tỏ vẻ đồng ý, ông Phú lại thêm:
- Bà ạ, tôi vừa ra coi lại ngoài cổng, thì cổng vẩn còn khóa
Bà Phú bưng cốc nước nóng xoay xoay trên tay quay sang nhìn chồng. Một người bản tính hung hăng như chồng bà mà từ lúc nhìn thấy đứa bé lạ mặt trong đêm khuya, bổng dưng biến thành con người khác với những sợ sệt không che dấu nổi, thì chắc hẳn đứa bé ấy có cái ma lực gì ghê gớm lắm. Có thể nó là một oan hồn từ khu nghĩa trang ngay sau vườn nhà bà hiện về chăng? Nhưng bà lại lắc đầu gạt đi vì bà nhớ lại 20 người chôn sau nhà bà không ai chết trẻ. Đó là điều làm cho bà vẫn còn ngờ ngợ, nữa tin nữa không tin. Bà phân vân hỏi chồng:
- Ý ông thì....thì ông nhất định cho rằng đứa bé ấy nó... nó... không phải là người à?
- Ma chứ không phải là người. Bà nhớ lại mà xem, có bao giờ con mèo nhà mình nó lồng lộn như đêm hôm qua đâu? Hễ nó gào lên, là lập tức có tiếng gõ cửa. Giống mèo nó nhận được ma ấy bà ạ! Bà không nghe người ta kể là quỷ nhập tràng hay sao?
- Có, có nghe! Nhưng mà quỷ nhập tràng nghĩa là quan tài người chết vẫn quàng trong nhà chưa đem chôn, nếu như mà có con mèo đen nó nhảy qua thì quan tài sẽ đứng bật dậy, rồi nắp quan tài bung ra, rồi người chết đuổi theo con mèo. Tôi thì tôi nghe người ta kể như thế.
Bất giác, ông Phú cuối xuống nhìn con mèo đen của mình đang nằm bên cạnh đùi ông. Và tự dưng ông thấy rờn rợn vì biết đâu nó chẳng biến thành tinh khi gặp quan tài người chết. Bà Phú uống ngụm nước, đặt lên, rồi trầm ngâm tiếp:
-..Tôi, thì tôi về ở với ông hơn hai mươi mấy năm rồi trong cái căn nhà này, chưa hề nghe nói nhà mình có mà bao giờ. Nhưng mà hôm nay nếu ông tin là có ma, thì để tôi bảo cái Thuần nó chạy đi mời Thầy, Thầy Lĩnh Quang ở bên Xuân Diễn ấy. Ngoài chợ người ta cứ đồn là Thầy Lĩnh Quang cao tay lắm. Thầy sai được cả âm binh và có phép mỡ mả chị thằng Trùng ấy. Để tôi thỉnh Thầy về cúng kiến xem sao, đuổi hồn ma đi khỏi quấy rầy nhà mình ông nhé.
ông Phú giơ tay ngăn lại:
- Hẳng khoan bà, tôi không muốn cái chuyện này ầm ỉ lên. Từ từ xem thế nào đã. Cần thì cũng phải mời nhưng thư vài hôm nữa xem sao.
Bà Phú đồng ý ngay:
- Thì tôi sợ ông lo quá rồi thành bệnh nên tôi mới đề nghị ông như thế, chứ thật ra tôi đâu muốn chuyện này nó lan ra ngoài cho thiên hạ biết đâu. Miệng đời nó ác dộc lắm! Người ta lại bảo là nhà mình thất đức bị trả quả báo.
Hai chữ thất đức, bà Phú nhấn mạnh để ám chỉ chính ông chồng những năm tháng đã qua. ông Phú dường như cũng biết ý vợ nên chớp mắt nâng ly trà hớp một ngụm lớn rồi không nói gì. Bà Phú liếc mắt nhìn chồng, thấy ông đã tỉnh hẳn chứ không lạnh người như trong đêm. Tuy vậy ánh mắt ông vẫn nặng trĩu ưu tư và da mặt sáng nay chợt xanh xao như người sốt rét lâu năm. Để trấn an ông, bà quay về với luận ngữ cũ hy vọng giúp chồng quên hẳn nổi sợ hãi vừa xảy ra, bà bảo:
- Trời ơi, đêm qua ông làm tôi sợ quá, tôi tưởng ông lên cơn sốt rét.
ông Phú gật đầu rồi nói:
- Bà nhớ đấy nhé, bà đừng dể hở cái câu chuyện nhà mình cho người ngoài nghe đấy nhé! Con Thuần, cái Nhàn, thằng Hoành, bà không được nói với chúng nó.
Bà Phú đồng ý ngay, bà nhắc lại:
- Với lại đã chắc gì là ma? ông bảo sáng nay ông nom thấy đứa bé đứng ở đây xin cơm, nhưng mà khi tôi mở cửa ra, tôi chả thấy đứa bé nào cả. Tôi thì tôi chỉ sợ lúc ấy ông ngái ngủ, mắt nhắm mắt ngủ, trời lại lắm sương mù cho nên ông nom cái nọ nó xọ ra cái kia chăng?
Ông Phú cũng mong như thế, mong rằng hình ảnh đứa bé sáng nay ông thấy đứa bé trước cửa nhà ông cũng như người đàn bà đứng ngoài cổng, đều chỉ là ảo giác. Nhưng rõ ràng không phải, ông nom thấy thật, ông ônở nụ cười héo hắt bảo vợ:
- Tôi là chúa ghét chuyện nhảm nhí, ghét những chuyện mê tín dị đoan, bà thì còn hay tin vớ vẩn chứ bà có thấy tôi tin ma quỉ bao giờ? Ấy thế mà bây giờ chính tôi lại gặp.
ông vừa dứt lời thì từ dưới bếp, chị người làm và hai đứa con cùng kéo lên, cái Nhàn hơn 20 tuổi, con gái cưng của bà Phú. Thằng Hoành 16 tuổi, học chữ Quốc ngữ hết lớp ba bậc Tiểu học thì trường làng không còn lớp cho nó tiếp tục nên đành quanh quẩn ở nhà. Nhàn ngồi xuống bên cạnh mẹ và hỏi một cách lo lắng:
- Nhà có việc gì thế hở mẹ? Đêm qua có trộm hay sao mà sáng nay con thấy mẹ xuống bếp đánh thức chị Thuần sớm thế?
ông Phú đưa mắt nhìn vợ làm hiệu, bà Phú vội xua tay phân trần:
- Trộm đâu mà trộm, mẹ chỉ hỏi chị Thuần là có quên khóa cổng hay không thôi.
Cái Nhàn thắc mắc hỏi:
- Ơ... nhưng mà rõ ràng con nghe tiếng bố nói chuyện với ai ngoài hè cơ mà? Lúc đó con giật mình thức dậy, con tính con chạy ra con thấy mẹ chạy xuống bếp gọi chị Thuần.
Bà Phú cười đẩy con:
- Bố mày mê ngủ đấy chứ có nói chuyện với ai đâu! Chuyện vãn gì nữa đêm vậy?
Thằng Hoành ngồi xuống bên cạnh chị, chăm chú theo dõi nhưng không nói lời nào, chị người làm lên tiếng đổi đề tài:
- Hôm nay bà với cô Nhàn có đi chợ không ạ? Để con mang quang gánh ra cho bà.
Bà Phú quay sang hỏi con gái:
- Đi hay ở nhà con?
Nhàn ngạc nhiên nhìn mẹ và đáp:
- Đi chứ mẹ! Chợ phiên mà! Mẹ bảo là mẹ mua vải may cho con và thằng Hoành mỗi đứa hai cái áo cánh mà!
Bà Phú thở dài:
- Ờ... ừ... thì đi, nếu đi thì phải đi cho sơm con ạ. Hôm nay sương nhiều, chốc nữa nắng to phải biết.
Rồi bà quay sang chồng:
- Thế ông có cần mua cái gì không?
ông Phú uể oải đáp:
- Bà xem trong tủ có còn chè mạn sen không? Hết thì mua cho tôi mấy gói.
Bà Phú đứng dậy bước vào nhà và nói:
- Ừ, để tôi xem coi
Rồi bà giục con gái chuẩn bị lên đường, bà bảo chị người làm:
- Lấy cái thúng được rồi. Có mua gì nhiều đâu mà cần quang với gánh.
Chị Thuần và Nhàn xuống bếp, thằng Hoành ra vườn sau xem tổ chim trên cây bưởi, chỉ còn mình ông Phú ưu tư ngồi trên
thềm nhìn ra cổng, không nói lời nào. Nổi lo sợ trong đêm gần như tan biến hết dưới ánh sáng mặt trời. ông ngẩm nghĩ mãi về cuộc đời, ông không hiểu tại sao ông lại gặp ma, hay đúng hơn là tại sao ma lại đến với ông?
Những câu chuyện về thế giới bên kia, về oan hồn vươn vấn dương gian. Ai mà chả từng nghe kể, mà chỉ toàn là tưởng tượng, là hoang đường, chứ có ai tận mắt gặp phải hồn ma bao giờ? Cả đời ông vẫn tin như thế cho đến đêm qua thì suy nghĩ của ông rẻ hẳn sang một khúc quanh khác. Chuyện tiếp xúc với cõi âm là có thật, chứ chẳng phải là ảo giác thêm mắm thêm muối cho hấp dẫn người đời. ông mong rằng câu chuyện sẽ kết thúc ở đây, đừng tái diễn thêm một lần nào nữa. ông thở mạnh, vói tay lấy cái điếu cày, rồi tình cờ ngước lên ngọn cây soan mọc ở đầu nhà, trên một nhánh khác có con quạ đen đậu từ lúc nào, mắt đăm đăm nhìn ông. ông vung tay đuổi, con quạ vẫn lì lợm đứng tại chỗ, ông tìm cục đá nhỏ quăng lên, con quạ vỗ cánh đảo một vòng rồi trở về chổ cũ và vẫn nhìn ông soi mói, khiến ông hoang mang, đứng dậy bỏ vào nhà.
Một ngày trôi qua rất nhanh, buổi trưa ông thơ thẩn đi bách bộ trên thềm nhà dưới mái hiên dịu mát. Bà Phú và Nhàn đi chợ chưa về, con mèo đen đang lửng thửng bước theo ông trên trên hè bổng dưng thét lên rồi chạy vụt ra cái cổng chính, rồi cứ thế nó nhảy chồm lên cào vào cánh cổng như đang quần thảo với một kẻ thù vô hình nào đó rất hung dữ. ông Phú đứng trên nhà, toàn thân nổi da gà, trố mắt nhìn ra dù không thấy gì ngoài con mèo một mình gầm thét và cào cấu.
Một lúc sau, con mèo ngừng kêu, đứng lặng im trước bụi tre một lúc rồi quay vào với ông. ông thở hổn hển, ngồi xuống bậc thềm xoa lưng nó bởi biết rằng hồn ma vừa hiện vào cổng trước nhà ông, nhưng có lẽ vào ban ngày, ông không thấy được. Tuy nhiên, nhìn vào cảnh tượng ấy, ông cũng thấy rõ là người xưa nói không sai: chung quanh người sống, có biết bao nhiêu hồn người chết đang lởn vởn bên cạnh, mà mắt trần gian không trông thấy được.
Biết đâu trong lúc này, ông đang ngồi đây thì hai cái bóng ma xa hai mẹ con xa lạ đó cũng đang ngồi sát bên ông mà ông không biết. ông hoang mang nghĩ ngợi mãi cho đến lúc vợ ông và cô con gái đi chợ về, ông mới gượng cười đứng dậy, và cũng không kể cho ai nghe câu chuyện con mèo vừa đánh nhau với ma ở ngoài cổng.
Hiện tượng quái dị ấy tuy có làm ông sợ, nhưng dù sao đi nữa nó cũng diễn ra vào ban ngày, ông không hãi hùng lắm. ông chỉ lo đêm nay, đứa bé con mặc đồ trắng sẽ lại gõ cửa tìm ông. Cho nên buổi chiều, ông lặng lẽ ra nghĩa trang sau nhà thắp nhang từng ngôi mộ. Thành khẩn cầu xin tổ tiên phù hộ cho ông qua cơn khủng hoảng. Có nghĩa là đừng để hồn ma đứa bé tìm ông một lần nữa.
Lần đầu tiên trong nghĩa trang của chính gia đình ông, mà ông cảm thấy cái không khí rờn rợn, vương đầy tử khí. ông vừa nhắm mắt để khấn nguyện thì chợt linh cảm từ phía sau có người nào đó đang nhìn ông, ông quay đầu lại thì chẳng thấy ai. ông nhắm mắt đọc kinh tiếp thì lại thấy rõ có ai đứng nhìn lén mình, ông quay lại nữa, thì chợt nhận ra con quạ đen đậu trên cành đa chỉ cách ông có mấy thước, ông giựt mình, nhặt cục đá ném lên, con quạ kêu lên mấy tiếng ai oán rồi bay về chờ ông trên nhánh cây soan bên hông nhà. Buổi tối ông ăn qua loa mấy chén cơm rồi vào buồng vì ông sợ bóng tối ngoài sân cũng như trong các lùm cây. Lên giường nằm, ông trằn trọc thao thức mãi. Bà Phú thắp nhang trên bàn thờ rồi chìu chồng cũng lên giường sớm và con mèo đen theo thói quen, nhảy lên cái ghế dành cho nó bên cạnh giường.
Bà Phú kể cho chồng nghe các thứ chuyện vặt vãnh ngoài chợ, tránh nhắc đến chuyện đêm qua, để khỏi làm chồng thêm sợ. ông Phú nghe vợ nói chuyện, cũng ậm ừ cho qua, nhưng rõ ràng ông không chú ý vì đầu óc vẫn đang vướng bận, cố gạt đi mà không gạt nổi. Gần nữa đêm bà Phú mệt mỏi ngủ mất trong khi ông vẫn còn trăng trở, hết xoay bên phải lại đổi sang bên trái. Nằm lâu ông buồn tiểu lắm, nhưng không dám đi một mình, mà chẳng lẽ lại đánh thức vợ dậy để rũ vợ cùng đi chung với mình. Nhà cầu nằm mãi sau bếp, ông tưởng tượng giờ này ông phải băng ngang mảnh sân ra đó, bất chợt đang đi mà hai cái bóng trắng lao ra chắn lối, thì chắc chắn có thể làm ông kinh sợ đến ngất đi được.
ông nén tiếng thở dài, nhắm mắt lại cố dỗ giấc ngủ. Bên ngoài trời đã khuya lắm, ông gnhe tiếng sương đêm từng giọt đều đặn từ mái ngói đến sân gạch, ông kéo tấm chăn phủ kín trên mặt rồi cảm thấy rất khó chịu vì ngộp thở. Không gian hoàn toàn tỉnh mịch, trời đứng gió, ngoài vườn bao nhiêu cây lá không một chút lay động.
ông hồi tưởng lại bao nhiêu năm sống ở làng này, từ thuở thiếu thời, ông đã lang thang một mình trên đường khuya, dù là đêm trăng sáng hay đêm tối trời, có bao giờ biết sợ là gì? Rồi sau này khi lập gia đình, có địa vị trong làng xóm, cũng biết bao đêm ông đi uống rượu ở nhà người này, người kia. Hoặc khi ra sân đình xem hát chèo, rồi một mình trở về trên những khúc đường vắng lặng, chỉ có tàn tre hai bên rũ xuống, chuyện ma quỷ có khi nào làm cản trở bước chân lịch lãm của ông đâu? Ấy thế mà từ đêm qua đến giờ, hễ nhìn thấy bóng đêm là ông run sợ. Vườn nhà ông cây trái xum xuê, từ nay ông chỉ dám ra chơi ban ngày mà thôi. Ông nhớ có lần nghe người ta bảo ma lúc nào cũng hiện diện quanh ta, nhưng chỉ người nào ma muốn cho thấy, thì mới thấy được. ông tự hỏi tại sao ma lại chọn ông để hù dọa?. ông nghĩ mãi không tìm ra lý do. Một lúc sau, ông Phú vừa lật người nằm ngửa, thì bổng con mèo bên cạnh ông kêu rú lên, lao vọt qua cửa sổ, và chạy vùn vụt trên mái nhà, tiếng gào thét như xé màn đêm. Sau đó có tiếng gỏ cửa phía trước, ông Phú giật thót người, hất mạnh tấm chăn ra khỏi, ngóc đầu dậy lắng nghe. Vẫn những tiếng cọc cọc giống hệt đêm qua.
ông hít thở chờ đợi, tiếng gõ vang lên như giục giã, ông đưa mắt nhìn vợ, hy vọng là bà cũng nghe thấy. Nhưng bà vẫn đang say giấc nồng, hơi thở vẫn đang đều đều, chứng tỏ bà vẫn chưa thức giấc. ông Phú khẻ lay vai vợ, bà Phú trở người nằm nghiêng, úp mặt vào tường, xoay lưng về phía ông. Tiếng gõ cữa vẫn tiếp tục, tiếng mèo gào thê lương vẫn vang lên rộn rã, tiếng móng vuốt cào cào rin rít trên cánh cửa gỗ. ông Phú như người say thuốc, như kẻ bị hớp hồn, nữa tỉnh nữa mê, mất hết tự chủ, tung chăn bước xuống giường, thất thểu đi ra, ông tháo then ngang, đẩy rộng cánh cửa. Con mèo đen lao vọt lại chân ông, cắn gấu quần ông, lôi thật mạnh, như cố ý kéo ông vào nhà. Nhưng ông cứ đứng yên như người bị thôi miên...

- Trang Chủ | Clip Sexy | Game

Lưỡi dao bị nguyền rủa

Cái chết đi cùng với họ, nhưng chỉ một người duy nhất trong thủy thủ đoàn biết điều đó. Cũng chính vì nó mà hắn ta đã bước chân lên con tàu này, rình mò để chờ cơ hội.
Gã đâu thèm quan tâm đến tất cả những vàng bạc, những bức tranh quý hiếm, những đồ nữ trang, những thứ lụa tuyệt đẹp ngày nào đã trang điểm cho hằng sa số những người đàn bà Hồi giáo. Gã chỉ muốn với tay tới một vật duy nhất!
Người đàn ông đó tự xưng là Malraux, nhưng đó không phải là tên thật của gã. Tên thật này không một ai trên tàu được biết, và gã cũng sẽ không bao giờ nói cho nghe. Gã phải giữ mọi việc trong vòng bí mật tuyệt đối. Mà khi mọi việc đã qua đi, người ta sẽ lại càng không dám thốt lên lời nào.
Hiện gã đàn ông vẫn còn nằm trên võng, trong căn phòng bên dưới boong tàu. Xung quanh gã là một bầu không khí ngột ngạt, nồng nặc, đặc quánh đến cả những con ruồi béo phị cũng ngừng bay, tìm chỗ nghỉ. Chẳng ai biết chúng xuất phát từ đâu, nhưng loài côn trùng quỷ quyệt đã tìm được đường đi riêng và bây giờ đang hiện diện nơi đây như muôn vàn đốm nhỏ óng ánh.
Malraux nghĩ tới việc con tàu này tới một lúc nào đó sẽ sang với Tân Thế Giới, để toàn bộ của cải châu báu của dòng đạo Templer được đưa về nơi an toàn. Khác với tại châu Âu, dòng đạo Templer không bị những dòng đạo khác ở Mỹ truy đuổi và tàn sát. Ở lục địa già, cứ mỗi khi ló mặt ra là thành viên của nhóm Templer đều biết điều duy nhất đang chờ họ là tra tấn, nhà giam và cái chết.
Gã đâu có muốn đi cùng con tàu này tới tận Tân Thế Giới. Gã đã lên thuyền tại Genua và họ đã vui vẻ đón nhận gã, bởi đa số thủy thủ đều e ngại cảnh cô đơn trên con đường dài vượt đại dương. Những con đường phủ đầy những cơn bão khủng khiếp, cái khát, cái nóng thiêu đốt dưới mặt trời đổ lửa, bệnh tật và cái chết. Chỉ những người đàn ông đặc biệt dũng cảm hoặc những người đàn ông chẳng còn gì để mất mới tham gia những chuyến đi nguy hiểm như thế này. Bản thân Malraux không biết mình thuộc nhóm người nào. Vì thế mà gã đàn ông đã tự tưởng tượng ra một nhóm người thứ ba và xếp hắn vào đó.
Đoạn đường từ Genua tới trạm giữa Marseile kéo dài vài ngày, bởi đầu tiên họ phải đi ngược chiều gió thổi từ hướng Tây hoặc Tây nam. Trong khoảng thời gian này, nhất định gã phải đạt được mục đích của mình.
Họ đã đi dọc bờ biển này đến hai ngày rồi, nhưng không bao giờ vào gần bờ tới mức người trên bờ có thể nhìn thấy. Lang thang trong vùng nước này chẳng phải là không nguy hiểm, đặc biệt đối với một con tàu có in hình cây thập tự Templer trên cánh buồm.
Lẽ ra phải quét vôi lên trên cây thập tự đó, nhưng lòng tự hào của những người trên tàu không cho phép. Thay vào đó, họ dự định vào vịnh Marseile trong đêm và một số người trong họ sẽ lên bờ ngay trong đêm đó để né tránh bàn tay truy lùng của Giáo hoàng và các vị giám mục Thiên Chúa giáo cũng như của cảnh sát ngoài đời. Tất cả những nhóm người đó đều rất muốn chiếm kho báu của dòng đạo Templer, bởi tất cả đều tham lam và đều đang sắp phá sản.
Chuyện đó chẳng khiến gã đàn ông mảy may quan tâm tới. Gã chỉ biết đến một mục tiêu duy nhất. Gã cũng sẻ biến mất tại Marseile, sẽ trà trộn vào đám người trên bến cảng để rồi chìm xuống không để lại một vết tích, như một con chuột lẫn vào trong hang sâu tăm tối.
Mặt biển tương đối yên lặng. Gã vừa thực hiện xong ca gác của mình. Ca gác tới sẽ chỉ bắt đầu khi màn đêm buông xuống nhưng sẽ có lượng người canh chừng gấp đôi. Thế nên dù có màn bao bọc của bóng đêm, đi tìm vật thể mà gã mong muốn vào thời điểm đó sẽ nguy hiểm hơn. Gã quyết định thực hiện kế hoạch dưới ánh sáng ban ngày.
Rất nhiều thủy thủ trên tàu không biết những gì đang được chứa trong những hòm rương trông rất đỗi bình thường đó. Người ta nói với họ rằng đó là thực phẩm và họ tin ngay lập tức.
Nhưng Malraux thì không.
Tỉnh như sáo, gã nằm thức trên võng trong khi những thủy thủ khác đều ngủ say. Gã nghe tiếng họ ngáy và cảm thấy ghê tởm. Đáng tiếc, gã phải chờ. Gã biết có một khoảng thời gian kể cả những người lính đang canh cũng sẽ giảm tập trung và ngủ nhiều hơn là gác.
Con tàu khẽ chòng chành. Những chuyển động truyền vào võng. Tiếng gỗ cọt kẹt, con tàu đang rên lên, cứ như thế nó đang khổ sở khủng khiếp vì chuyến đi này. Nếu cơn bão nổi lên thì không biết nó còn rên siết tới mức nào nữa?
Malraux nhìn trân trân lên trần phòng, làm như trên đó có treo một tấm gương cho hắn soi. Quả thật, hắn đang nghĩ tới ngoại hình của mình. Những ai gặp hắn thường tỏ vẻ coi thường khi thấy hắn quá nhỏ bé. Họ đâu có để ý đến cấu tạo cơ thể hắn. Gã có rất nhiều cơ bắp, rất khỏe mạnh và trong một vài tháng trời sống tại xứ Osamanen, gã đã học được nghệ thuật đấu vật. Một khi đã tóm được ai vào trong vòng tay, hắn có thể giữ nguyên người này ở tư thế đó thật lâu cho tới khi anh ta chết vì ngộp thở. Hắn đã thử nghiệm điều đó rất nhiều lần, rồi bình tĩnh bỏ đi, để lại những thân hình mất hết sức sống.
Đó là một thời gian tràn đầy bạo lực, chỉ có những kẻ nhanh hơn và mạnh hơn mới sống sót.
Những người khác vẫn đang ngủ.
Họ ú ớ, họ ngáy, một số người nói lảm nhảm trong mơ. Những người khác lại rên rỉ, một số vật vã và một số làm tất cả những điều đó. Cái mùi tỏa ra từ người họ thật ghê tởm. Nó bốc lên mùi mồ hôi, mùi đàn ông, mùi ghét bẩn và Malraux cũng biết trên con tàu này có quá đủ mọi loại côn trùng để truyền bệnh từ người này sang người khác.
Hắn chờ thêm một vài phút nữa, rồi gạt cái võng sang bên. Việc đứng dậy thật ra không khó, nhưng những người thủy thủ nằm quá sát nhau nên nếu không chú ý, hắm sẽ đạp phải họ khi nhảy từ trên võng xuống.
Hắn cẩn thận từng bước một. Linh cảm cho hắn biết bây giờ là lúc hắn có thể ra tay. Không chờ đợi nữa, bởi đột ngột hắn có cảm giác như con tàu này là con tàu bị nguyền rủa. Nếu hắn không lầm, thì hắn thậm chí vừa thoáng nhìn thấy một con chuột béo phì – cái thứ rác rưởi báo trước thảm họa.
Những kẻ thù đã biết người thuộc dòng đạo Templer muốn bỏ trốn và đã tụ tập những con tàu của mình lại. Cũng đã không ít người bỏ thân nơi đáy đại dương.
Malraux chạm chân được xuống đất. Đầu tiên, hắn nhướng đầu ngón chân cái, rồi hắn đặt cả bàn chân. Hắn đi một đôi giầy rất nhẹ bằng da và vải. Hắn có thể chuyển động mà không gây ra một âm thanh nào. Tất cả những món đồ lặt vặt quanh đây chẳng bõ cho hắn mang theo, đằng nào hắn cũng chỉ lôi chúng lên thuyền cho mục đích ngụy trang. Toàn đồ chẳng mấy giá trị. Thoáng nhẩm lại, gã đàn ông tin chắc hắn hành động đúng và thời điểm này là lúc ra tay thực hiện kế hoạch. Chỉ chờ thêm vài tiếng đồng hồ nữa thôi, có thể mọi việc đã trở thành quá muộn.
Căn phòng hẹp, đầy những người ngủ và rất u tối, mặc dù có hai ngọn đèn cháy ở khoảng tường trước mặt.
Gã đàn ông bò trên cả tứ chi. Cách ra cửa tốt nhất là chịu khó chui xuống bên dưới những chiếc võng. Chúng treo trên đầu hắn như những tấm lưới nặng nề. Gã đàn ông nghe âm thanh của những người đang ngủ. Nhiều cái võng đã oằn xuống dưới sức nặng của người nằm, đến độ quệt cả vào tóc gã.
Con đường dẫn vào phòng chứa đồ được hai người lính canh chừng. Họ có vũ khí, thế nhưng Malraux không sợ. Xử lý hai người này là chuyện dễ dàng. Hắn lại có lợi thế là đã quen biết họ trong mấy ngày qua.
Con tàu chòng chành chầm chậm bước theo những đợt sóng dài. Gã đàn ông có mái tóc đen và bộ ria lởm chởm lẹ làng chuyển động theo nhịp sóng. Không khí thật ngột ngạt. Cả gương mặt và toàn bộ cơ thể hắn bây giờ phủ một lớp mồ hôi rất dày. Gã cũng bốc mùi chẳng khác gì những người đàn ông đang ngủ kia.
Gã bò về phía cửa.
Tới bên ngưỡng cửa, gã đàn ông đứng lên, chạy đến bên một cửa sổ nhỏ, ném một cái nhìn về hướng Bắc – hướng đó là bờ biển nước Pháp.
Gã chưa nhìn thấy nó, nhưng gã có thể linh cảm ra nó, bởi có những đường viền mờ mờ đang hiện lên dưới ánh mặt trời gay gắt. Gã sẽ dễ dàng vượt qua được khoảng cách này, nó hoàn toàn chẳng thành vấn đề đối với người bơi giỏi như gã. Ngoài ra, hướng sóng cũng đang đổ về biển và đang có một cơn gió nhè nhẹ thổi tới từ hướng Nam. Những kẻ khéo léo như gã có thể để cho sóng mang mình lên, và thậm chí còn nghỉ ngơi trong khi bơi.
Mọi việc diễn ra trôi chảy. Khi cẩn thận mở cánh cửa ra, hắn chẳng nhìn thấy người lính gác nào. Cửa gỗ có kêu lên cọt kẹt đó, nhưng chắc đám đàn ông đã quá mệt trong một ca gác quá dài.
Hắn lẻn ra ngoài.
Ngay lập tức, hắn cảm nhận được một luồn gió thổi thẳng vào mặt. Nó thoáng và lạnh hơn, gây cảm giác dễ chịu, nhưng vẫn chưa đủ mạnh để xua khô lớp mồ hôi dày trên mặt hắn.
Từ bên trên, ánh nắng len lỏi qua những kẻ hở trên những tấm ván, rọi vào không gian trong bụng chiếc tàu buồm và vẽ lên trên mặt đất bẩn thỉu những hình ngoằn ngoèo sáng màu, nơi có vô vàn hạt bụi nhỏ đang nhảy múa.
Gã đàn ông biết gã phải đi về đâu. Những ngăn kho lớn nằm ở giữa và đuôi con tàu. Nơi gã muốn tới là một phòng nhỏ nằm ở dãy kho đầu.
Con tàu đã được tạo dựng rất tiện lợi. Ở giữa có một lối đi chia phía dưới boong tàu ra làm hai nửa. Bên phải và bên trái là những dãy nhà kho chất đầy hàng.
Trước khi ra tới được lối đi ở giữa đó, gã đàn ông phải mở thêm một cánh cửa khác. Cánh cửa này gắn vào một vách ngăn ngang và đằng sau cánh cửa có hai người lính gác đang ngồi.
Gã biết rõ như vậy. Gã đã chuẩn bị thông tin từ trước. Tình hình hôm nay chắc chắn cũng sẽ như thế.
Malraux cất bước đi. Lẹ làng khéo léo như một tên ăn trộm. Hắn không mang vũ khí, nhưng đôi bàn tay với những ngón tay ngắn khỏe không ngừng chuyển động. Không được để cho chúng trở thành đờ đẫn, dại khờ! Những người dân ở xứ Osmanen đã dạy cho hắn một số mánh khóe, có thể dùng tay trần bóp chết người.
Bầu không khí u ám trong bụng con tàu như một làn khói cô đặc. Một bầu không khí không bao giờ thật sự yên lặng. Mặc dù hắn không nghe thấy tiếng bước chân người, nhưng tiếng sóng vỗ không ngừng vào vách gỗ tạo nên một nền âm thanh luôn hiện hữu. Cả những ván gỗ thật ra cũng luôn phát âm thanh và chuyển động. Chúng rên rỉ như những tù nhân. Đứng ở đây, gã không nghe thấy tiếng reo ù ù của cánh buồm, tiếng thổi phần phật của vải, vốn được một số người coi là bí hiểm. Chỉ thỉnh thoảng gã mới nhận ra âm thanh trầm **c của những bước chân chạy trên boong. Thỉnh thoảng hắn lại nghe tiếng ra lệnh vẳng nhẹ từ bên trên xuống, hoặc một tiếng thét, một câu chửi rủa. Thế thôi.
Có cái gì vút qua mặt hắn như một bàn tay hết sức dịu dàng. Đó là đám lưới nhện đang phủ lòng thòng từ trên trần phòng xuống. Nhện ở đây không lo chết đói. Thỉnh thoảng lại có những con ruồi béo phì sa vào lưới.
Đến bên buồng gác, Malraux dừng chân. Hắn biết hắn chỉ có một mình, mặc dù vậy hắn vẫn cẩn thận nhìn quanh. Gã đàn ông không phát hiện ra ai. Gã cũng không nghe thấy âm thanh nào khả nghi. Trong một góc phòng có những cây bạch lạp đang cháy. Chúng chảy ra, trông như những khúc xương da trắng đã bị vứt đi.
Đằng sau vách ngăn ngang là hai người lính gác. Đó không phải là thủy thủ, mà là những người lính được thuê về đây. Họ không quan tâm tới chuyện các giáo phái và họ chỉ chấp nhận tiền lương bằng vàng. Trong phòng họ ngồi bây giờ không tối hẳn, bởi ánh sáng đang lọt vào qua những khe hở nhỏ trên những vách gỗ. Mặc dù vậy, căn phòng vẫn gây ấn tượng rất u ám, như đang có vô vàn những bóng đêm nhảy múa trên nền phòng.
Malraux gõ cửa.
Gã không gõ chậm hay gõ khẽ. Gã đập thật mạnh cả nắm đấm vào cánh cửa gỗ, đòi hỏi, yêu cầu, để hai người lính trong kia biết có người đang muốn vào trong.
Đầu tiên, không có phản ứng. Thế rồi hắn nghe thấy một tiếng động. Thanh chắn bằng gỗ ở phía trong được kéo sang bên. Cánh cửa mở. Nó vừa mở vừa kêu lên một tiếng kêu tởm lợm khiến Malraux nổi da gà. Quầng sáng của một ngọn đèn dầu chiếu vào hắn, người lính gác đang giơ cao cây đèn, giơ thẳng lên trên đầu khiến những bóng đèn phủ lên mặt anh ta.
Malraux không nhìn thấy mặt người lính gác bởi nó đã chìm xuống trong cái hỗn hợp giữa bóng đen và ánh đèn. Nhưng hắn nghe được giọng anh ta.
- Anh muốn gì?
- Tôi phải nói chuyện với các anh.
- Thế thì nói đi.
- Không phải ở đây. Đừng để cho ai nghe thấy tiếng chúng ta. Chúng ta… ta phải nói chuyện riêng.
- Tại sao?
Người lái tàu cử tôi xuống. Anh ấy… anh ấy có một thông điệp gửi riêng cho hai anh. Mọi việc đã được thống nhất với thuyền trưởng. Vàng, rất nhiều vàng. Kể cả những đồ nữ trang quý giá.
Người đàn ông chần chừ. Malraux nghe thấy tiếng anh thở. Cả hai khái niệm “vàng và đồ nữ trang” luôn dễ dàng khiến cho những tên lính đánh thuê dỏng tai lên. Họ không biết những cái hòm kia đang chứa những gì. Họ chỉ nhận nhiệm vụ canh giữ chúng, tất cả những chuyện khác họ không quan tâm tới.
- Vào đi!
Người lính gác thứ hai lên tiếng. Anh ta ngồi bên một chiếc ghế thấp, ở phía bên kia quầng sáng nên Malraux không nhìn ra anh ta.
- Có chuyện gì? – Anh ta hỏi.
- Anh này mang thông tin lại.
- Của ai?
- Của người lái thuyền. – Malraux nói nhanh. – Chuyện này dính dáng đến rất nhiều vàng, có lẽ nên cân nhắc.
Giờ thì người lính gác thứ hai cũng đứng dậy. Nỗi tham lam lóe sáng trên con mắt. Cả hai người đã bỏ mũ xuống, tấm khiên che ngực cũng vậy. Không khí trong lòng thuyền quá nóng, họ đã cởi chúng ta cho thoải mái.
- Nói cho tôi nghe đi. – Tên lính có vẻ háo hức.
Malraux vẫn còn chờ đợi. Họ có hai người. Gã phải tìm cách phân tán tư tưởng họ. Mà họ lại đang mang vũ khí. Những lưỡi giáo của họ ánh lên trong ánh sáng của lưỡi lửa bập bùng từ đĩa dầu.
Gã đàn ông thè lưỡi liếm môi, xin một ngụm nước.
- Chúng tôi không có. – Một tên nói.
- Có chứ, tôi biết là…
- Cho nó đi! – Người đàn ông đã mở cửa ban nãy vụt nói.
- Tùy anh.
Người đàn ông thứ hai bước vào phần trong của căn phòng tăm tối. Chỉ còn một người ở lại.
Malraux mỉm cười. Người đàn ông đó đứng bên cạnh gã, mũi giáo đang chỉa xuống đất. Kẻ lẻn vào chờ thời điểm thích hợp. Khi nghe thấy tiếng nước chảy, hắn biết là bây giờ nước từ trong một thùng rất lớn đang được chia sang thùng nhỏ.
Gã ra đòn nhanh hơn chớp.
Người lính gác hoàn toàn bất ngờ khi một khuỷu tay cứng như đá thúc mạnh vào giữa thân thể anh. Anh gục xuống, cảm giác khó chịu trào lên, khiến anh không kịp kêu ngay lập tức. Anh ngã người về phía trước.
Malraux chỉ chờ có vậy. Gã đấm hai lần vào gáy người đàn ông.
Người lính gác xỉu xuống. Malraux đã giành lấy cái giáo trong tay anh.
Gã đàn ông lại mỉm cười lạnh lùng đi về phía trước, đến gần bóng tối.
Tiếng bước chân vang lên. Người lính gác thứ hai quay trở lại. Chắc chắn anh ta đang cầm một bình đầy nước. Anh ta không mang vũ khí, và không biết là Malraux đang chờ cho tới lúc nhìn thấy hình dáng anh hiện ra trong quầng tối.
Gã lấy đà, và phóng cây giáo nặng.
Người lính gác hoàn toàn bị bất ngờ. Malraux không nhìn được rõ chi tiết. Gã chỉ nhìn thấy dáng người đó còn giật sang bên trái rồi sang bên phải một thoáng trong bóng tối, cái bình đựng nước đập xuống dưới đất. Thế rồi cả thân hình người đàn ông cũng đập xuống. Kêu lên một tiếng trầm **c, thân người đó giáng xuống nền phòng rồi không động đậy nữa.
Malraux hài lòng. Gã đã chuẩn bị rất tốt và bây giờ gã biết rất chính xác, gã có thể tìm phòng đựng đồ vật ở chỗ nào. Những cánh cửa thậm chí không được đảm bảo bằng khóa hay dây xích. Hắn chỉ cần dùng một thân gỗ nặng và đẩy chúng sang bên.
Sau khi đã làm việc đó xong, gã quay trở lại, lấy cây đèn dầu. Gã không quan tâm đến xác chết, mà cũng chẳng thèm ném một cái nhìn xuống thân người đang ngất.
Người đàn ông không động đậy.
Malraux đoán chắc, bây giờ gã sẽ không bị ai cản trở. Gã đang rất hồi hộp. Đôi môi gã run rẩy, hai đầu gối như đang mềm ra khi bước vào căn phòng chứa châu báu, đặt cây đèn sang một bên, lấy một hơi thật sâu và đưa mắt nhìn quanh.
Nó có ở đây không?
Có!
Cái hòm đó ở ngay bên cạnh hắn. Gã đàn ông thì thào:
- Giờ thì ta sẽ ra tay…

Chương 2

Cái hòm này trông không giống những cái hòm khác, thường mang hình dáng rương đựng đồ. Cái hòm này nhắc người ta nhớ tới một chiếc quan tài, và hình dạng đó có nguyên do riêng của nó.
Malraux không đến đây tay không. Hắn đã dắt sẵn vào lưng quần một khúc gậy sắt buộc vào một sợi dây. Gã rút gậy sắt ra. Trong ánh sáng của ngọn đèn dầu, gã nhìn cái đầu đã bị đập dẹp ra của khúc gậy và tỏ vẻ hài lòng.
Nó sẽ giúp gã dễ dàng cạy nắp quan tài.
Hắn quan sát nắp chiếc quan tài. Kẽ hở của nó và phần bên dưới trông rất rõ. Đây là nơi phải thúc gậy sắt vào. Gã thử một vài lần và sung sướng vô cùng khi nghe tiếng gãy nho nhỏ, cho biết gỗ ở một vài nơi đã bung ra. Hắn cầm gậy sắt bằng cả hai bàn tay,dồn sức lực và cuối cùng cạy được cái nắp hòm bật ra không quá khó khăn.
Tất cả đều trôi chảy.
Gã đổ mồ hôi vì làm việc thật tập trung và cái mùi chua chua của gã trộn với mùi máu chảy ra từ vết thương rất sâu trên ngực người lính đã chết. Máu đã tạo thành một vũng rất rộng quanh anh ta, nó trở thành nơi mời gọi những con ruồi béo phì đang hả hê kéo tới.
Gã đàn ông nghiến răng làm việc tiếp, gã buộc miệng nguyền rủa khi thấy nắp hòm dù đã nhích ra một chút, nhưng cúng hơn hắn tưởng.
Cuối cùng, việc cũng hoàn tất. Gã cầm vào nắp hòm bằng cả hai tay và có thể nâng nó lên cao.
Nắp hòm từ từ mở ra.
Thành công!
Gã không nhìn được nhiều. Gã thở hổn hển không rõ vì hồi hộp hay vì mệt, gã bước sang bên và cầm cây đèn dầu lên. Gã đưa cây đèn dầu lại gần cái hòm, di chuyển nó dọc theo phần cuối hòm.
Ánh sáng tỏa xuống dưới, và chiếu lên một hình người. Đầu tiên, nó khiến Malraux không khỏi bị sốc.
Đó chưa hoàn toàn là một bộ xương người. Có những chỗ phơi ra xương trần nhợt nhạt trắng xám, như thể vừa được kỳ cọ, đánh bóng kỹ càng. Nhưng một số chỗ khác vẫn còn thịt và những mẩu da sót lại, bám vào xương, đặc biệt ở phần ngang vai và phần đùi trông cực kỳ ghê rợn.
Đã vậy cả những phần thịt này cũng đã thối rửa ra, ngả một màu xám như tro và chắc chắn chẳng bao lâu nữa cũng sẽ rụng hết ra.
Gã không quan tâm đến điều đó. Thứ duy nhất mà Malraux để ý tới là cái dáng người chưa mục hết này đeo vật gì bên mình.
Dây thắt lưng chưa bị mục. Nó được làm bằng da, và ở phía bên phải nó, Malraux nhìn thấy một chiếc bao đựng dao găm. Phần dưới dao đang thò ra bên ống xương nhợt nhạt. Gã không quan tâm đến bao da. Điều duy nhất quan trọng là cái gì đang thò cán ra khỏi cái bao này.
Đó là một con dao găm, cán của nó được quấn rất kỹ bằng một loại băng vải.
Khi Malraux đưa tay đến gần con dao, những ngón tay của gã run rất mạnh. Cổ họng gã nghẹn thắt, hai con mắt sáng rực lên như trong cơn sốt. Đã biết bao nhiêu năm nay gã chờ đợi giây phút này. Ước mơ quá lớn, không thể không hồi hộp.
Đây là mục tiêu tối thượng cho mọi mong ước của gã!
Gã đàn ông sờ vào cán dao. Băng vải quấn quanh cán gây cảm giác mềm mại. Nó uốn tựa vào lòng bàn tay gã, như thể nó được làm riêng cho gã.
Một nụ cười hiện lên trên đôi môi khô cứng và rạn nứt. Bằng một cử chỉ vội vàng, gã đàn ông rút món vũ khí ra khỏi cái bao đựng bằng da đã rạn.
Gã quan sát lưỡi dao. Trong ánh sáng của ngọn đèn dầu, nó gây ấn tượng như đang được phủ một lớp mỏng bằng máu. Lưỡi dao như đang sống, đang chuyển động, đang gửi thông điệp. Malraux lấy hơi thật sâu, xoay lưỡi dao rồi ép nó một thoáng lên môi mình.
Gã thấy thật dễ chịu, khi cảm nhận lưỡi thép đó, như thể nó đang thổ sức sống vào người gã.
Malraux lại hít một hơi thật sâu.
Gã hoàn toàn không đếm xỉa đến những rương đựng đồ và những chiếc hòm khác nằm trong phòng. Dĩ nhiên gã có thể dễ dàng mở một trong những chiếc hòm đó ra và vơ vét không biết bao nhiêu đồ quý giá nằm trong, nhưng chuyện đó cũng sẽ cướp đi của hắn những phút giây quí báu. Gã đàn ông đang muốn biến mất càng nhanh càng tốt. Gã muốn lên trên boong tàu, nhảy xuống nước và bơi vào bờ. Ngay cả khi bọn người kia có phát hiện ra gã, chuyện chắc chắn sẽ xảy ra, thì cũng sẽ không một kẻ nào có thể truy đuổi được gã. Chúng không thể làm điều đó được. Chúng phải đến Marseile càng nhanh càng tốt.
Gã cất con dao găm bên dưới cái quần cũ kỹ đã có giấu sẵn một bao dao, được làm rất tỉ mỉ cho chính món vũ khí này.
Malraux tỏ vẻ hài lòng.Việc còn lại của gã bây giờ chỉ là biến mất cho thật nhanh. Nhưng gã cũng phải cẩn thận, không được tỏ ra quá vội vàng. Đừng khinh suất! Nếu không mọi việc sẽ thành uổng phí.
Gã xoay người ra khỏi hòm chứa đồ.
Con tàu vẫn tiếp tục phăng phăng đi theo hướng định trước. Nó lướt trên đầu những con sóng rất dài, chuyển động nhẹ nhàng như đã biến thành một con chim.
Cũng có thể Malraux có cảm giác như vậy, bởi gã đang tiến gần thành công. Cảm giác đến mục tiêu mọi ước mơ của mình thật tuyệt vời, chỉ còn vài bước chân nữa là gã sẽ đến với chiến thắng chung cuộc.
Những con ruồi nặng nề bóng nhảy vo ve quanh xác chết. Chúng đậu cả xuống vũng máu, bây giờ đã được phủ một lớp màu thẫm bên trên. Gã đàn ông xoay người sang trái. Một tay của hắn đang cầm cây đèn dầu. Cây đèn chuyển động theo những nhịp chân hắn. Nó ném những vệt tối như những con ma u ám lên tường và xuống nền phòng, những con ma thật thích hợp với khung cảnh chết ***c xung quanh.
Người đang ngất nằm gần cửa ra vào. Malraux cân nhắc xem có nên giết cả người lính canh này hay không, nhưng rồi hắn bỏ ý định. Chẳng bao lâu người ta cũng sẽ biết ai là kẻ ra tay giết ***c và cướp đồ vật ở đây. Chẳng cần phải để lại thêm một xác chết thứ hai.
Gã bước qua thân người bất động. Đúng lúc muốn bước tiếp tới cửa dẫn ra ngoài thì gã nghe thấy một tiếng động thật khẽ. Malraux quay người lại. Nhưng…
Muộn rồi!
Một bàn tay đã nhanh như chớp tóm lấy cổ chân gã. Tóm rất mạnh và rất chặt, khiến Malraux kêu lên. Không bước tiếp được, gã ngã người sang bên, chiếc đèn rơi xuống nền phòng, vỡ toang.
Dầu chảy ra ngoài.
Những lưỡi lửa xuất hiện, tham lam như những ngón tay kẻ cắp. Lửa phụt thẳng vào vũng dầu.
Có tiếng gào nhẹ.
Thế rồi đám lửa bùng ra, bốc lên cao. Nó phun ra phì phì, nó nhuộm một màu đỏ ***i, bí hiểm và ma quái. Malraux nhìn thấy người vừa ngất nay đang chuyển động mà không buông chân hắn ra. Anh ta muốn bám vào hắn, lấy chỗ kéo để đẩy người lên. Anh ta vẫn còn chưa hết choáng váng, ánh mắt còn đờ đẫn, miệng và mặt nhăn nhúm.
Tình thế báo hiệu một kết cục u ám.
Ngọn lửa mỗi lúc một ngoạm thêm nguyên liệu. Chỉ còn vài phút nữa thôi, nó sẽ lan rộng qua xung quanh. Ngay bây giờ đã có một luồng khói gay gắt bốc lên cao, khiến đôi mắt của người lính gác chảy nước.
Malraux không dùng cây dao găm, mà nắm bàn tay trái lại thành quả đấm. Gã đàn ông ra đòn vô cùng tàn bạo.
Nắm đấm bay thẳng vào đầu người đối diện. Lần này, gã đấm ba cú liên tiếp. Lực bám vào cổ chân hắn lỏng ra. Thế rồi bàn tay trượt xuống, người lính gác lại ngã đập xuống mặt phòng, lăn người một vài vòng nhảy nhót trên nền gỗ.
Malraux đứng bật dậy.
Gã thừa hiểu, gã không còn thời gian để dập tắt đám cháy. Ngọn lửa có quá đủ con mồi quanh đây và chẳng bao lâu, nó sẽ biến cả con tàu thành địa ngục lửa.
Cho tới lúc đó, gã phải rời khỏi boong tàu.
Họ ngập ngụa, mắt trào nước, gã đàn ông leo ra khỏi phòng. Gã đi lảo đảo trên hành lang, thỉnh thoảng đập người vào vách tường, giơ tay sờ cán dao găm và vui vẻ khi biết rằng món vũ khí vẫn còn nguyên vẹn bên người hắn. Chắc chắn nó sẽ bảo vệ cho hắn.
Gã phải lên được boong tàu càng nhanh càng tốt, trước khi có người nhận ra đám cháy. Làn khói gay gắt bây giờ đã cuộn sang nơi khác. Gã đàn ông không nghĩ đến chuyện đánh thức những người đang ngủ. Gã để mặc kệ cho họ xoay trở với tình huống bất ngờ.
Malraux lao người qua một cánh cửa thấp. Đi đến boong, gã cúi xuống, ẩn đằng sau những cuộn dây lớn. Xung quanh hắn không có ai. Gã nghe loáng thoáng những tiếng người từ xa, trên đầu hắn là tiếng phần phật của cánh buồn trong gió. Gã cũng nghe tiếng nước đang chảy quanh mạn tàu, nó cho gã niềm hy vọng và gã lén về hướng đuôi tàu.
Thế rồi gã trèo lên được mỏm gỗ cuối đuôi tàu. Đứng trên đó và nghe thấy một tiếng kêu lảnh lót, biểu lộ tất cả những nỗi kinh hoàng khi con tàu bị cháy.
Lửa…! Cháy! Lửa!
Có ai đó giật chuông báo động.
Những tiếng kêu của nó vang lên đồng thời với bước nhảy gọn gàng của Malraux xuống dưới sâu, xuống dưới mặt nước màu xanh xám, xuống với luồng nước cuồn cuộn sáng.
Chỉ một tích tắc sau, luồng nước nuốt chửng lấy hắn. Chính xác hơn là chở che cho hắn trong vòng tay mênh mông.
Nếu có thể, gã đàn ông bây giờ sẽ cười thật lớn. Nhưng vì đang ở dưới nước, gã chỉ nghiến hai hàm răng, lòng vô cùng sung sướng.
Thật sâu, biển sâu nhưng gã có cảm giác êm đềm lạ! Gã lặn xuống dưới và bơi với những cánh tay quạt rất mạnh về hướng Bắc, về hướng bờ biển của nước Pháp. Gã phải lên được bờ biển đó và phải bước lên bờ trong một đoạn vắng người. Những đoạn vắng người như thế ở đầu này rất nhiều. Malraux không biết bao nhiêu thời gian đã trôi qua. Thiếu không khí, gã đàn ông trồi lên trên. Gã lấy hơi, tràn đầy hai lá phổi, và không quay nhìn lại, bởi mỗi giây đồng hồ bây giờ đều vô giá. Gã biết mỗi con tàu khi chìm xuống đều gây ra những vũng nước xoáy rất mạnh, kéo xuống dưới sâu tất cả những gì đang tình cờ có mặt quanh nó. Lúc đó thì kể cả những người bơi giỏi nhất cũng không còn cơ hội.
Gã bơi, rồi lại ngẩng lên lấy hơi, rồi lại tiếp tục bơi, và tới một lúc nào đó, Malraux dừng lại ở mặt nước bên trên.
Lúc bấy giờ gã mới quay đầu nhìn lại.
Nằm dài theo dọc luồng nước, gã nhìn về hướng sau.
Gã nhìn thấy chiếc tàu buồm.
Trên đầu nó bây giờ là một đám mây khói đặc kịt, tỏa rộng ra xung quanh. Trong lòng đám mây nhảy nhót vô vàn những lưỡi màu đỏ thẫm đang trèo lên cánh buồm. Con tàu bây giờ đã nghiêng về hướng sau và sang bên trái. Chẳng bao lâu nữa, nó sẽ chìm xuống nước.
Gã đàn ông bật cười.
Gã cười như chưa bao giờ cười trong cuộc đời của gã, cho tới khi một làn sóng chạy ngang phủ xuống đầu gã, bóp nghẹt tiếng cười. Gã đàn ông bơi tiếp.
Bây giờ thì gã biết rõ là gã sẽ đến được mục tiêu của mình.
Gã sẽ đến được bờ biển và chẳng bao lâu nữa gã sẽ thuộc vào một trong những kẻ quyền thế của đất nước này.
Con dao găm sẽ mang lại cho gã quyền lực đó…
nvdtdnguyen
21-02-2007, 07:44 PM
Chương 3

Malraux quả đã bơi được vào đất liền và đi lên bờ. Đối với gã, đó là một ngày tuyệt vời. Sóng biển gần bờ không đến nỗi quá mạnh, gã có thể bơi vòng tránh những dãy núi đá có thể gây nguy hiểm. Tới nơi, gã nằm thật lâu trên nền cát mềm mại cho đến khi mặt trời ngả đầu về hướng Tây và cuối cùng, biến mất trong mặt nước biển.
Malraux không biết chính xác gã đã bơi cụ thể vào địa phương nào. Nhưng gã biết, dọc khúc bờ biển này của nước Pháp có rất nhiều khu dân cư và nhiều làng chài nho nhỏ. Ở đó gã cũng sẽ kiếm được chút gì để ăn. Gã đàn ông nghĩ như vậy và lên đường. Không khí không còn quá nóng như lúc ban trưa.
Gã tiến tương đối nhanh. Những vách núi đá vẫn còn tỏa ra một chút hơi nóng mà chúng thu lượm được trong ngày, đã khiến cho cơn khát trong hắn dâng lên. Ở đây không có nguồn nước, kể cả mảng thực vật cũng sơ sài. Nhưng đi thêm chút nữa, gã thấy hiện ra những túp lều, những ngôi nhà đầu tiên. Một khu dân cư nho nhỏ, nằm lọt thỏm trong một cái vịnh. Nơi sinh sống của dân đánh cá.
Gã lẻn vào ngôi làng.
Gã tìm được nước. Gã nhìn thấy một cái giếng bên cạnh một ngôi nhà. Trên thành giếng có để một cái gàu bằng gỗ. Gàu đầy nước, gã đàn ông cúi xuống, uống thỏa thê.
Có ai đó bước tới.
Đó là một người đàn ông già nua, dáng điệu hiền lành. Ông ta gật đầu với gã.
- Anh từ xa tới đây phải không?
- Vâng.
Người đàn ông ấy quan sát hắn bằng vẻ kiểm tra, nhưng không nói gì. Malraux không thích bị nhìn bằng ánh mắt như vậy. Hắn đã muốn quay lưng đi thì ông già lên tiếng mời hắn vào nhà ông.
- Ông có phải là dân đánh cá không? – Malraux hỏi cố giữ lễ phép.
- Có thể nói như vậy.
- Tôi vào nhà ông để làm gì?
- Anh không muốn ăn gì hả?
- Có chứ. – Gã đáp vẻ mừng rỡ, bởi vì gã đang đói.
- Thế thì vào đây.
Ngôi nhà được xây bằng những hòn đá sáng màu. Nó chật chội và tối tăm, bởi những khoảng hở nhỏ trên tường chẳng có ánh sáng lọt vào. Malraux thấy rất dễ chịu với không khí lành lạnh trong nhà, cũng như với luồng sáng tỏa ra từ những cây nến đặt trong một chiếc đĩa gỗ để giữa bàn.
Ông già ngồi đối diện với hắn và nhăn một vài lần sóng mũi cong cong của mình.
- Anh bốc lên mùi muối và nước, mặc dù người anh đang khô. Anh bơi từ biển vào đây hả?
- Vâng.
- Anh bơi rất lâu phải không?
- Vâng. – Hắn luôn muốn tiết kiệm lời nói.
- Tôi đã nhìn thấy khói bốc lên từ biển khi tôi đứng trên một vách đá. Có phải thuyền của anh bị cháy không?
- Vâng.
Người đàn ông tóc bạc mỉm cười, đứng dậy và bước đến gần một chiếc giá bằng gỗ.
- Anh muốn ăn phải không?
- Ông có gì nào?
- Cá. Cá khô. Được phơi giòn dưới ánh nắng mặt trời. Tôi cũng có bánh mì và rượu vang.
- Vâng, thế thì tốt.
Người đàn ông già nua phục vụ hắn. Ông ta làm điều đó với một vẻ tự nhiên khiến Malraux phải kinh ngạc. Vì không quen với kiểu hiếu khách như vậy, gã đàn ông đâm nghi ngờ và cẩn trọng. Hắn không muốn bị rơi vào một sự ngạc nhiên độc ác.
- Chúc anh ăn ngon miệng!
- Cảm ơn.
Cá rất ngon, không mặn quá, và rượu vang thì hơi lành lạnh, khiến cổ họng và dạ dày Malraux mừng vui. Gã mừng vui vì mọi thứ đã nằm lại sau lưng, nhưng gã không chịu được ánh mắt quan sát của ông già. Khuôn mặt ông đang nhảy nhót và méo mó một cách lạ kỳ đằng sau ánh nến.
Gã vẫn chưa tin tưởng ông già.
- Cho tôi thêm chút nước được không?
- Cả rượu vang nữa chứ.
- Không, chỉ nước thôi.
Ông già gật đầu, đứng dậy và bước ra hướng ngoài. Malraux không nghe thấy ông ta làm gì ngoài đó. Chỉ tới khi nghe tiếng rít của dây thừng bên giếng và tiếng cọt kẹt của gỗ vang lên, gã mới thở ra hài lòng. Với một can đầy nước trong tay, người đàn ông tóc trắng quay trở lại.
- Ông sống một mình sao? – Malraux hỏi.
- Chẳng phải bao giờ cũng một mình.
- Thế còn ai sống trong nhà ông nữa?
- Lần thì người này, lần thì người nọ. – Ông ta đổ nước từ can vào cốc.
Malraux uống. Nước lạnh làm mát từng tế bào cơ thể khiến hắn tỉnh cả người.
- Nhưng ông không phải là dân đánh cá?
- Tại sao không?
- Tôi quen nhiều dân chài. Ở ngoài kia đã bắt đầu tối rồi. Bây giờ là lúc người ta sửa soạn lưới.
- Tôi già quá rồi.
Ông già lại ngồi xuống, và nét mặt của ông nhợt nhạt đằng sau ánh nến. Khi đặt thêm một câu hỏi nữa, ông chủ nhà khiến khách suýt nghẹn.
- Anh có phải dân Templer không? Anh là một người trong số họ hả?
Malraux im lặng. Gã uống và ăn con cá cuối cùng. Ông chủ nhà để cho hắn thời gian suy nghĩ, rồi sau đó mới nhắc lại câu hỏi, tới lúc đó Malraux mới phản ứng.
- Tại sao tôi phải là một người của dòng đạo Templer?
- Bây giờ người ta rất hay gặp họ. Họ đang bị truy đuổi như những con thú. Người ta đang bám sát lấy chân họ. Cả nhà thờ Thiên Chúa giáo, kể cả mật thám của nhà vua cho đến Giáo hoàng cũng đã đưa ra những đội quân riêng. Người ta sẽ tóm lấy họ, sẽ ném họ vào nhà tù và tra tấn.
- Tôi biết.
- Anh có phải là người của dòng đạo Templer không? – Ông già cương quyết hỏi. Một phần những từ ngữ của ông có vẻ như đang bị những lưỡi lửa nến nuốt chửng.
Malraux muốn nhận ra ánh mắt rình mò hiểm độc trong giọng nói đó, nhưng gã không tìm được.
- Ông sẽ làm gì nếu gặp một người của dòng đạo Templer?
- Tôi chưa rõ.
- Ông có giao nộp anh ta không?
- Không! – Ông già lắc đầu. – Đầu tiên tôi sẽ thử tìm hiểu. Nếu anh ta là một người tốt thì tôi sẽ che giấu cho anh ta. Nếu anh ta là một con quỷ thì tôi sẽ thả anh ta ra cho bọn người truy đuổi. Anh thấy đấy, tôi là người trung thực. Giờ thì anh có thể nói ra sự thật.
Malraux nheo hai con mắt lại.
- Đối với ông cái gì là tốt, cái gì là xấu? Ông làm cách nào mà biết được?
- Một số người vốn theo đạo Templer nay đã biến đổi niềm tin vào đạo giáo của họ. Như thế là không tốt, bởi bây giờ thì họ phục vụ cho quỷ dữ. Cũng có thể họ không còn cơ hội khác, bởi họ bị bỏ rơi. Điều đó có thể xảy ra. Người ta luôn phải tính đến trường hợp đó, đúng không?
- Tôi không phải là người của dòng đạo Templer. – Gã quyết định phải nói như vậy. – Thế nhưng ông biết nhiều về họ ư?
- Đúng, những ai đã trở nên già nua như tôi, người đó đã từng trải qua rất nhiều sự kiện. Người đó nhìn thấy nhiều thứ và họ thường chẳng được những người trẻ tuổi hơn cao trọng. Thế nhưng những người tuổi trẻ tuổi đó quên rằng kể cả người già cũng có mắt để nhìn và tai để nghe. Và cùng với tuổi già, họ có một sự khôn ngoan nhất định mà những người trẻ tuổi không có được. Tất cả những ai cười giễu một người già nên nghĩ tới những điều đó. Tôi biết rồi thế nào cũng có chuyện xảy ra, để thống nhất, họ đã từ lâu chia ra làm hai phe. Nhưng tôi cũng biết người ta không thể hủy diệt được họ, bởi họ sẽ luôn luôn tìm cách tụ hội lại với nhau, tạo thành một cách liên hợp mạnh mẽ.
- Ông có phải là phù thủy không?
Ông già lắc đầu.
- Tôi chỉ là một người khôn ngoan, anh bạn trẻ ạ. Chỉ khôn ngoan thôi…
Đột ngột, Malraux cảm thấy bối rối và kinh hãi trước người đàn ông. Gã không biết gã phải xử trí như thế nào. Gã phải ở lại đây hoặc là biến đi? Phải đấm gục ông già xuống, phải giết ông ta để xóa đi một dấu vết? Hay là gã cứ đơn giản để sự kiện xảy ra và tiếp tục thử thách ông già thêm một lúc nữa?
- Những ý nghĩ anh đang có trong đầu là không tốt đâu, anh bạn trẻ. Hãy nghe lời tôi, chúng không mang lại lợi ích gì.
- Ông biết thế thật sao? – Gã gần như rúng động.
- Đúng, sự khôn ngoan mách bảo cho tôi như vậy. – Ông già vẫn cứ giữ cái giọng đều đều.
- Thế thì nói cho tôi biết, tôi là ai.
- Anh đang trên đường chạy trốn. Anh đã làm một điều gì đó, có thể là một chuyện hết sức quan trọng và quyết định đối với khoảng đời trước mắt của anh.
- Tôi đã làm gì?
- Nếu anh không tự kể cho tôi, thì tôi cũng không biết đâu. Tôi không phải là phù thủy.
Malraux gật đầu. Thế rồi gã mỉm cười, cân nhắc, và cuối cùng ra quyết định. Gã đưa bàn tay phải lên cái cán được quấn vải của con dao găm, nhưng chưa rút hẳn vũ khi ra khỏi bao. Thay vào đó gã nói:
- Bây giờ tôi sẽ chỉ cho ông một vật điều mà ông nên coi là một bằng chứng của lòng tin. Nếu ông thật sự khôn ngoan và biết rất nhiều, chắc chắn ông đã nghe nói đến chuyện này rồi. Đúng, tôi tin chắc như vậy.
Trước khi ông già kịp phản ứng, Malraux đã rút cây dao găm ra và đặt nó trên bàn.
Bây giờ nó nằm đó. Được ôm ấp bởi ánh sáng của những ngọn nến, khiến cho những đường nét của nó mềm ra, cứ như thể nó có thể tan chảy ra bất cứ lúc nào. Nhưng nó vẫn nằm lại và ông già bị lay động mạnh mẽ đến mức ông bất giác lắc đầu. Ông giơ hai cánh tay lên, áp chặt hai bàn tay vào hai bên má và những thớ thịt phủ làn râu màu trắng của ông giần giật. Đồng thời, răng ông đánh lập cập vào nhau. Cơn ớn lạnh tóm chặt lấy ông, như bị bao vây bởi một nhà giam và Malraux e rằng hắn vừa phạm một sai lầm khủng khiếp.
- Ông sao thế?
Ông già không nghe thấy lời hắn.
- Trả lời đi! – Hắn nói to.
- Không, không…
Malraux không buông tha.
- Ông biết món vũ khí này, đúng không? Chính ông đã biết nó. Chắc ông đã nhìn thấy nó một lần, ông bạn. Ông biết nó trong hoàn cảnh nào?
Phải qua một khoảng thời gian khá lâu, người đàn ông già nua mới cất lên thành tiếng. Ông ta thở nặng nề. hai con mắt anh ánh nước. Vội vàng, ông uống một vài ngụm rượu vang. Thế rồi ông hạ đầu xuống, thì thào trả lời:
- Nó là một công cụ của quỷ Satan, một dấu hiệu độc ác. Anh đã mang con quỷ vào nhà tôi. Anh đã gọi hồn nó dậy. Anh là một tay chân của địa ngục!
May mắn làm sao, ông già chỉ lào thào, thì thầm, bởi Malraux không muốn bất kỳ một ai khác nghe thấy những từ ngữ đó. Cố gắng lắm gã mới giữ được bình tĩnh, ngồi im và chỉ nở một nụ cười hiểm ác trước khi cất tiếng nói.
- Tôi vẫn chưa hiểu nó theo phương diện này. Tôi chỉ biết, con dao xuất xứ từ vương quốc của đạo Hồi. Nó có nguồn gốc từ châu Á…
- Con dao này là của hắn!
- Ai kia! – Gương mặt hắn giãn ra.
- Của quốc vương Harun El Basra. Nhóm đạo Templer đã ăn cắp nó. Nhóm đạo Templer muốn giữ con dao này. Họ biết rõ con dao này có sức mạnh như thế nào. Họ đã giấu con dao này trong quan tài của một người đã chết, đúng không?
- Ông biết nhiều đấy.
- Đúng, tôi biết nhiều. Tôi đã nghe một nhóm người nói chuyện về nó, nhưng đó là nhóm Templer thứ hai, những kẻ bây giờ quay sang phục vụ cho quỷ sứ, bọn tay chân của quỷ Satan bây giờ muốn chiếm lấy con dao, bởi con dao này bị quỷ ám. Nó là cái Ác. Người mang nó cũng sẽ là người ác. Anh ta chỉ nghĩ rằng anh ta đã điều khiển được nó, và con dao sẽ nghe lời anh ta, nhưng đó là một sự nhầm lẫn nghiêm trọng. Công cụ của quỷ dữ không bao giờ nghe lời một con người. Công cụ của quỷ dữ được làm ra cho quỷ dữ, chứ chẳng phải cho con người như chúng ta. Nó sẽ mang lại thảm họa cho chúng ta. – Ông già nói tiếp, giọng thống thiết. – Nó sẽ không mang lại may mắn cho anh đâu. Vì thế hãy nghe lời tôi khuyên. Cầm lấy nó, bước ra những vách núi ở ngoài kia, và ném nó xuống nước, ném nó xuống chỗ biển sâu nhất.
Malraux mỉm cười. Ông già muốn dùng những câu nói để cảnh báo, nhưng chỉ đạt được ở gã đàn ông này một hiệu quả ngược lại. Bây giờ gã mới thật sự quý mến món vũ khí vừa ăn cắp được. Dĩ nhiên, gã hiểu là tóm được con dao trong tay là gã sẽ đạt tới một cấp bậc quyền lực nhất định và nôn nóng muốn thử thách quyền lực đó. Gã tiếp tục mỉm cười, chuyển động bàn tay cho tới khi đặt bên mép bàn, từ từ đưa nó về hướng con dao. Bàn tay bò tới như một con rắn đang dần dần rút ngắn khoảng cách chỗ con mồi.
Ông già không nhìn thấy điều đó. Ông đang bị sốc. Ông ngồi cúi người về phía trước, chống khuỷu tay lên mặt bàn và đưa cả hai tay che mặt.
Malraux vẫn tiếp tục mỉm cười. Gã bây giờ trông giống một con quỷ hơn là con người.
Con dao găm là điều quan trọng.
Bây giờ càng quan trọng hơn lúc nào hết.
Hắn trườn bàn tay tới và đột ngột dừng lại. Nó nằm im lặng ở đó, như những móng vuốt nhợt nhạt của một người đã chết, bởi hắn cảm nhận rằng hắn không cần phải đẩy tay tới nữa. Hắn đã chạm vào vũ khí.
Malraux có cảm giác như hắn và con dao găm bây giờ đã được nối với nhau bằng một cây cầu. Một cây cầu tinh thần, mạnh mẽ đến mức độ không một kẻ nào có thể chia cắt.
Hắn và con dao găm thuộc về nhau. Ý nghĩ đó quay cuồng trong đầu óc gã đàn ông. Gã có cảm giác như một thế lực xa lạ và hoàn toàn khác biệt đang để lại cho hắn một thông điệp, nhưng thông điệp đó chưa đến được với đầu óc hắn, bởi còn quá nhiều vật trở ngại trên đường đi, những trở ngại phải được dọn dẹp.
Một khi những chướng ngại vật này bị tiêu diệt, sẽ không kẻ nào, không vật gì ngăn cản được hắn nữa.
- Mi thuộc về ta. – Gã thì thào, ông già không nghe thấy vì tiếng nức nở của ông đang to hơn giọng gã đàn ông nói. – Mi thuộc về ta, về ta chứ không phải một kẻ nào khác. Ta đã đi kiếm mi, ta đã tìm thấy mi, ta đã giải thoát cho mi và ta muốn mi chỉ nghe một mình mệnh lệnh của ta, chỉ nghe theo một mình ta. Chừng nào ta còn sống, chừng nào ta còn đủ sức mạnh để cầm mi lên, cả hai chúng ta sẽ là những chiến hữu của nhau. Ta muốn mi dẫn đường cho ta, cũng như ta muốn mi để ta dẫn đường mi. Ta muốn chúng ta tạo thành một đơn vị thống nhất, bởi chúng ta thuộc về nhau. Hai chúng ta đã đi tìm nhau, và đã tìm thấy nhau. Mi là cứu tinh của ta, và ta đã là cứu tinh của mi. – Gã đàn ông hơi cúi đầu xuống, nhìn chăm chăm vào mũi dao. Mũi dao có vẻ như biến dạng dưới ánh nến và ngày càng gây ấn tượng mạnh mẽ hơn là nó có thể chảy ra bất cứ lúc nào.
Malraux mỉm cười. Gã chỉ nhìn thấy một con dao găm đó, gã tập trung toàn nội lực vào nó và đồng thời vào một yếu tố khác.
Vào hai cái chết, vào việc giết người!
Cả hai luồng điện đó gặp nhau, bổ sung lẫn cho nhau và mạnh mẽ hơn hẳn trong lưỡi dao có pháp thuật, giải tỏa cho toàn bộ sức mạnh của nó bùng nổ ra ngoài.
Con dao chuyển động!
Người ngoài nhìn không ai hiểu được, bởi nó xoay mặc dù không có bàn tay nào chạm vào nó.
Chỉ qua sức mạnh tinh thần và sức mạnh của chính nó. Bởi nó cũng chính là chủ nhân.
Malraux nghe thấy tiếng gã cười. Không phải tiếng cười vui vẻ và tự do, mà vất vả và ngạc nhiên. Những cảnh tượng đầu tiên xuất hiện trước con mắt tinh thần của gã. Gã có cảm giác như mình là một siêu nhân đang ném được một cái nhìn vào tương lai và biết được quyền lực của bản thân.
Gã cùng món vũ khí của quỷ Satan.
Gã và cái Ác!
Những bóng tối của ánh nến nhảy nhót trong mắt gã. Trông Malraux thật độc ác, như một con quỷ đã nhập vào hình người, đang ngồi bên một cái bàn bình thường.
Gã ra lệnh đầu tiên.
- Lên cao!
Con dao phản ứng. Nó đột ngột bay dọc mặt bàn và dừng lại ở một độ cao ngang với khuôn mặt của người đàn ông già nua. Khuôn mặt đang được che sau hay bàn tay.
Con dao xoay tròn.
Nó xoay từ từ, hầu như đang ra vẻ thích thú. Có lúc nó hướng mũi dao về hướng Malraux, rồi sau đó lại xoay về hướng gã đàn ông cái cán được quấn vải. Cái cán đang kêu kên khe khẽ, như thể làn chất liệu quấn cán đang tung ra những tia lửa li ti.
Một điều kỳ diệu.
Một pháp thuật độc ác, quỷ quái, và Malraux cảm giác hắn là người bất khả chiến bại. Con dao găm này là tất cả những gì mà gã mong ước trên đời. Gã hoàn toàn không thể tưởng tượng được, đấy là một kẻ hầu người hạ tốt nhất, chung thủy nhất. Nó đơn giản có một không hai, nó tuyệt vời, nó sẽ nghe lời gã. Nó chỉ nghe theo những dòng suy nghĩ của gã và làm tất cả những gì mà gã yêu cầu.
Gã sẽ chỉ cho kẻ thù của gã biết, ai là kẻ mạnh hơn. Nhưng kẻ thù của gã hiện thời đang ở đâu?
Malraux đã biết câu trả lời, và nụ cười quái gở trên gương mặt của gã mỗi lúc một rộng hơn, một quỷ quái hơn.
Cho tới nay, gã chỉ nói chuyện lý thuyết với mình. Thế nhưng cơ hội thí nghiệm rõ ràng đang nằm trong tay gã. Gã đưa ánh mắt nhìn về người đàn ông già nua. Ông ta đã đưa gã vào nhà của mình, ông ta đã tiếp đãi gã như một vị khách, nhưng ông ta đứng về phía bên kia.
Đó là điều ngu xuẩn nhất của ông ta!
Con dao vẫn xoay tròn trong không khí. Malraux muốn nó dừng lại, gã ra lệnh đanh gọn:
- Thôi.
Món vũ khí tuân lời. Nó xoay một lần nữa, rồi dừng lại, chỉ vào cổ của người đàn ông già nua, một cần cổ được phủ bằng một lớp da mỏng, nhăn nheo, rám nắng. Cái cần cổ giật lên giật xuống cùng huyết hầu theo mỗi lần nuốt.
- Này, ông già… - Hắn cất giọng.
Ông ta không chịu nghe thấy.
Malraux cảm nhận rõ nỗi giận dữ và căm hờn ông già lớn lên trong tâm khảm hắn. Việc ông ta không nhìn gã cũng có thể coi là biểu thị sự khinh thường. Trước đây một vài giờ đồng hồ thì gã còn chịu đựng được, nhưng bây giờ thì không.
Không bao giờ nữa…
Không đời nào!
Và gã ra lệnh cho con dao găm.
- Giết!
Món vũ khí vẫn trực chỉ cái đầu nhọn của nó vào cần cổ nhăn nheo của ông già. Thế rồi nó chồm về phía trước. Malraux nghe một tiếng gừ khe khẽ khi mũi dao xé gió lướt tới. Một tích tắc sau đó, con dao đã tìm thấy mục đích, và cắm phập vào cổ họng của người đàn ông già nua.
Ông già thậm chí không kịp kêu lên một tiếng. Máu chảy tràn vào khoang miệng ông, xuất hiện những bóng tối trước mắt ông, kéo ông vào cõi chết.
Malraux ngồi trên ghế và quan sát toàn bộ cảnh tượng đó với mối quan tâm lạnh lùng. Chỉ tới khi suy luận ra những tương lai nào đang đứng trước mặt gã, Malraux mới cảm thấy sống lưng gã rởn nhẹ. Một tương lai bóng loáng, được đúc bằng vàng. Gã có thể nhảy lên mà hò reo vì mừng rỡ, nội tạng của hắn bây giờ đang chìm ngập trong những lưỡi lử hả hê.
Người đàn ông già nua ngã xuống đất và ngã ngửa.
Tiếng động kéo tên giết người ra khỏi trạng thái đờ đẫn. Gã đàn ông quỷ ám đứng dậy, đi vòng quanh bàn và nhìn xuống người đã chết.
Khi rút con dao găm ra khỏi vết thương, Malraux khích khích cười…

Chương 4

Malraux ra khỏi ngôi nhà của người đàn ông. Gã đứng trong bóng tối và tận hưởng màn trời đêm lành lạnh cùng ngọn gió đang vuốt ve mặt hắn.
Chẳng phải chỉ đêm nay thuộc về hắn, cả tương lai cũng là của hắn. Malraux bây giờ đã nắm trong tay một quyền lực và nếu hắn biết khéo léo tận dụng nó, hắn không phải chỉ có thể nhân đôi nó lên, hắn có thể nhân mười nó lên, nhân trăm nó lên. Những suy nghĩ quay cuồng trong đầu óc và gã đàn ông như sa vào một cơn say, tưởng tượng như gã đang bay lên khỏi mặt đất, bay qua những vách núi đá kia, bay ra tới biển.
Tuyệt vời! Tuyệt vời! Tuyệt vời!
Gã rời ngôi làng. Tới một lúc nào đó người ta sẽ tìm thấy xác ông già và hỏi kẻ nào là thủ phạm? Nhưng điều đó không khiến gã băn khoăn, bởi không một ai nhìn thấy gã. Không một câu trả lời nào đúng cả.
Sau bữa ăn, gã cảm thấy mình đã khỏe trở lại, bất chấp những cố gắng của ngày hôm trước. Gã thấy mình đủ sức để đi bộ tới một khu dân cư lớn hơn, nơi gã có thể an tâm trà trộn vào dân chúng trong thời gian đầu. Để tồn tại, hắn cần có tiền hay vàng. Gã sẽ có cả hai thứ đó dưới sự trợ giúp của con dao găm.
Con dao bây giờ là bạn gã, là đối tác, và trên con đường đi qua bóng đêm, gã vừa đi vừa luyện tập với nó.
Lần này con mồi của chúng không phải là người nữa, mà là những con thú không kịp tránh. Gã truy lùng những con thỏ, gã giết rắn, điều này khiến gã vô cùng vui mừng, bởi gã thấy con dao của gã nhiều khi chuyển động còn nhanh hôn cả loài bò sát.
Màn đêm khiến gã hứng thú.
Cứ mỗi khi đâm chết được một con thỏ, gã lại sung sướng hít vào người hơi máu nóng. Gã biết rất rõ, cái mùi này sẽ còn bám theo gã suốt đời. Năm này qua năm khác, nạn nhân này qua nạn nhân khác…
Đến khi bình minh thức dậy thì gã phải trốn tránh, bởi có một nhóm lính dạo quanh khu vực. Gã để cho nhóm lính đi qua, rồi xoay hướng bước theo họ trên một con đường nhỏ. Gã giữ khoảng cách gần, để luôn luôn nhìn thấy mùi bụi vẩn lên sau chân họ. Điều duy nhất gã quan tâm bây giờ chỉ là món vũ khí. Nó khiến gã cảm thấy mạnh mẽ, vô cùng mạnh mẽ.
Khi bình minh đã chiếu sáng bầu trời từ phía đông, gã đàn ông vẫn thấy chưa mệt mỏi. Gã có cảm giác như người vừa đủ, bởi gã vô cùng tin chắc vào việc làm của mình.
Băng qua một con suối nhỏ bằng một cây cầu cổ bằng đá, gã nhìn thấy những nóc nhà của một thành phố nhỏ nhô lên, màu trắng xen lẫn xám, rải rác
trong một thung lũng con con và trên cả triền núi. Trên triền núi có cả một nghĩa trang nhỏ. Cách chỗ gã đứng không xa, ngay bên cạnh ngọn tháp của ngôi nhà thờ là một ngôi nhà trông có vẻ rộng rãi, to lớn. Gã đàn ông chọn nó làm mục tiêu. Những người sống trong một ngôi nhà như thế này chắc chắn phải rất giàu có và hoàn toàn có thể chia sẻ một phần sự giàu có đó cho gã.
Đó là ngôi nhà của một thương gia.
Chỉ cần hỏi một vài người trong khu vực xung quanh, gã đã tìm ra điều đó. Hai giờ đồng hồ sau, gã nấp trong khoảng vườn của ngôi nhà. Khoảng vườn không phải chỉ được bảo vệ bởi những bước tường, mà có cả một vài nô lệ da đen. Họ không nhìn thấy gã, họ chỉ nhìn thấy con dao găm, nhưng ở những thời điểm quá muộn màng.
Gã đi vào trong nhà.
Gã cảm nhận một sự mát lạnh đến tuyệt vời bên trong ngôi nhà. Những khoảnh ao và những vòi phun nước ngoài vườn khiến ngôi nhà không chỉ mát dịu mà còn làm xuất hiện cả những bóng đen. Hắn biết rằng chủ nhân ngôi nhà đã sống một vài năm ở miền Trung Cận Đông và đã đưa một vài nét kiến trúc ở đó về nước Pháp.
Gã tìm thấy người đàn ông trong vườn, ông ta đang nằm dài trên một chiếc ghế sofa. Một người đàn ông béo phì với một cái bụng tròn như quả bóng, một gương mặt múp míp như mặt lợn, lơ thơ vài sợi tóc trên đầu.
Gã chơi trò mèo chuột với người đàn ông.
Gã chỉ cho ông ta biết con dao của gã có thể làm được gì. Nó không phải chỉ biết giết, nó cũng có thể gây ra những vết thương, hoàn toàn như ý của chủ nhân của nó muốn.
Vậy là ngay lập tức, Malraux trở thành giàu có.
Tên giết người rất muốn mang thêm, nhưng sức vác của hắn chỉ có hạn. Số vàng này sẽ đủ cho việc khởi đầu một tương lai mới.
Thêm một lần nữa, gã ra lệnh cho con dao găm bằng thứ giọng lạnh tanh mùi máu:
- Giết!
Nười thương gia giàu có chết với một tiếng rên nho nhỏ trên môi khi chưa kịp hiểu vì sao phải chết.
Malraux rời căn nhà, cảm giác cả thể giới đang mở ra dưới chân gã, thuộc về gã.
Và thế là gã đàn ông mang lốt quỷ biến ra khỏi miền Nam nước Pháp, lặn thật sâu. Thỉnh thoảng người ta lại tìm thấy một vài dấu vết mơ hồ của hắn, những dấu vết chỉ rất ít người trong cuộc biết đến.
nvdtdnguyen
22-02-2007, 05:52 PM
Chương 5

Bá tước Dean Ellroy đưa cả hai tay cầm lấy tấm vải phủ bằng lụa, rồi giật nó lên cao.
Trong một thoáng, miếng lụa trôi bồng bềnh như một thiên thần dang cánh trên thân hình người vợ đã chết của ông, nhợt nhạt và cứng đờ. Bà nằm trên giường ông, mặc một bộ áo ngủ bằng lụa. Ở khoảng chính giữa, ngang với tầm cao của trái tim, nền lụa hiện rõ một vết màu đỏ. Công cụ chết ***c đó đã đâm trúng bà ở chỗ này.
Tấm vải phủ xuống, tấm vải màu tang.
Nó tỏa ra, trùm lên toàn bộ thân hình của người đã chết, cứ như Eireen cần phải được xóa khỏi ký ức của người chồng.
Với những bước chân nặng nề, bá tước Dean Ellroy rời khỏi phòng ngủ. Những suy nghĩ trong đầu ông xoay quanh Eireen. Ông biết, không một ai có thể trốn tránh được số phận của mình. Cả ông cũng không…
Ông đi qua ngôi nhà, thấy nó trống vắng đến tận cùng vì không có Eireen.
Người hầu kẻ hạ đã được ông gửi đi chỗ khác. Người chồng ngồi xuống phía sau bàn viết, vùi mặt vào giữa hai bàn tay. Bá tước Dean Ellroy bật khóc, ông khóc thương cho Eireen, người đã chết thay cho ông, bởi người mà con dao đó muốn hạ thủ là chính bản thân ông. Chỉ bởi Eireen thay đổi giường ngủ trong đêm nên Thần Chết đã tóm lấy bà. Bản thân ông đến câu lạc bộ và nghỉ đêm tại đó. Eireen biết tất cả, và không nói một lời nào. Cả đời bà là người ít nói, nhưng bà yêu ông bằng tất cả trái tim, cũng như ông yêu bà vậy.
Giờ thì bà đã chết.
Bà bị giết bởi một lời nguyền rủa mà lẽ ra không được tồn tại. Bị giết bởi một thứ vũ khí có tồn tại đấy, nhưng không hiện hình, bởi không ai nhìn thấy nó. Món vũ khí được điều khiển bởi những thế lực ma quỷ và bản thân ông là một trong rất ít người biết được điều này.
Có kẻ nào đó đã lôi nó ra khỏi nơi cất giữ. Kẻ đó muốn dùng món vũ khí này để diệt trừ những người đàn ông đáng kính trọng, và ông biết, một vài thành viên trong nhóm hội ăn thề của ông đã qua đời, tại nước Mỹ, tại châu Á, một người ở Berlin.
Bây giờ đến ông.
Bá tước Dean Ellroy thở nặng nhọc. Ông là một người đàn ông cao lớn có mái tóc đã xám trắng, khuôn mặt thon nhỏ với đôi mắt đại bàng tinh tường, một đôi mắt có thể nhìn thấu đến tận đáy tâm hồn người đối diện. Nhưng tất cả những nét tinh tường sắc sảo đó giờ đ

Back to posts
[Game Online Nhập Vai] - Vấn Kiếm 2012 - Vô địch PK
Vườn Thiên Đường - Cùng chơi game, trồng cây, kết bạn, tán gái
Siêu Bài iWin+ 2012 phiên bản mới nhất
+ Tải clip girl xinh trong phòng tắm
Sòng Bài 2012 - Tá Lả, Tiến Lên, Poker, 3 Cây


© 2012 Hà Văn Phú . All right reserved

Games cực đỉnh trên di động. TẢI NGAY MIỄN PHÍ!!!
C-STATU-ON

(Seo) Bạn đến từ :