Ở làng Vạn Yên, dòng họ ông Đào Ngọc Phú là gia đình duy nhất có nghĩa trang tư thành hình cách đây đã ba thế hệ. Người ta kể rằng lúc ông nội của ông Phú còn ngồi ghế quan huyện đã dùng thế lực để mua lại cơ ngơi của một gia đình lân cận giáp ranh phía sau nhà ông rồi cho san bằng, và lập nghĩa địa riêng, dặn con cháu là khi ông xui tay nhắm mắt thì an táng ấy là miếng đất có long mạch tiềm ẩn. Dòng họ Đào Ngọc sẽ tiếp tục phát thêm được mấy đời nữa.
Khu nghĩa trang ấy nằm vào khu đất trũng, có hàng rào gỗ bao bọc. Quanh năm âm u vì lũy tre già rũ xuống che phủ. Lại thêm cây đa cổ thụ mọc bên hông, tàn lá ngăn hết ánh sáng mặt trời, khiến những ngôi mộ nằm trong đó trông càng lạnh lẽo. nhất là những buổi sáng mờ sương hay những khi chiều tối.
Nhưng có lẽ thầy địa lý đoán sai, cho nên hai ba thế hệ kế tiếp nhau, dòng họ Đào Ngọc cứ xuống dần, thoái Quan vi dân về làm ruộng. Gọi là xuống, nhưng ruộng đất còn rất nhiều, so với đại đa số dân làng thì họ Đào Ngọc vẫn thuộc hàng ăn trên ngồi tróc, vinh hoa phú quý hơn đời.
Chỉ có điều làm ông Phú không hả dạ là vì trong thâm sâu, ông mê làm Quan. ông thích chức quyền để dược nể sợ, chứ không muốn chỉ làm người phú hộ. Tuy giàu mà thiếu cái oai phong, hách dịch. ông bỏ thời gian đi tìm thầy địa lý mãi trên cao bằng, đón về để coi khu nghĩa địa sau vườn, và kể rõ câu chuyện ông nội làm Quan năm xưa, hy vọng là có thể nhờ thầy xoay chuyển lại số mệnh, tái lập con đường hoàng lộ lại cho ông và con cháu.
Nhưng thầy coi xong thế đất rồi bảo:
- Vận số của ông chỉ được đến thế thôi, như vậy cũng được đại phúc lắm rồi. Tương lai hung khiết chưa biết thế nào, cần phải thi ân bố đức cho thật nhiều. Nhân đã dạy là Tiên tích đức, hậu tầm long. Xưa Cao Biền thời Đường bên Tàu sang cai trị nước ta, xây thành Đại La, dùng phép phong thủy để yểm chấn những nơi có long mạch, hòng làm cho dân Nam mỗi ngày một suy yếu, không vùng lên được. Phép yểm buà của Cao Biền hiểm hóc lắm, giết đứa con gái 17 tuổi, moi hết ruột gan, nhồi cỏ vào bụng, rồi cho mặc quần áo màu vàng, giả làm Thần Linh để đánh lừa Thần Núi Tản ở nước ta. Phép ấy thì tôi cũng có thể làm được để xoay chuyển vận số cho ông. Nhưng xét ra ác động và tội âm đức lắm. Con cháu về sau sẽ phát cuồng, mà đi ăn xin tha phương cầu thực.
ông Phú nghe xong, thở dài não ruột, chia tay ông thầy địa lý, rồi ông ra phía trang sau nhà thắp nhang khắp lượt, con mèo đen thoăn thoắt chạy theo, con mèo này ông nuôi từ khi mới đẻ, lúc nào cũng gắn bó không rời ông. ông buồn rầu nhìn gần 20 ngôi mộ xây cùng kích thước. Phần lớn lớp xi măng bọc ngoài đã lên riêu xanh mốc. Người lạ đến nhà ông bất chợt ra vườn sau, nhìn thấy những ngôi mộ san sát ấy, thường khó tránh khỏi cái cảm giác rờn rợn bao phủ. Nhưng với cả nhà ông thì đã quá quen mắt từng ngày, nên chẳng bao giờ bận tâm đến. Thậm chí có những đêm trăng mờ, lũ con ông còn dám rủ nhau ra, chọn một ngôi mộ bằng phẳng, leo lên ngồi cầu cơ gọi hồn về để hỏi chuyện tương lai. Thầy địa lý đi rồi, bà Phú ngước mắt nhìn chồng và nhắc lại:
- Thầy nói đúng lắm đó ông à! Mình được như thế này là quý lắm rồi. Phúc đức tại tâm, Thầy bảo phải thi ân bố đức, thì cứ nghe lời thầy mà làm. Từ nay, giúp được ai cái gì thì mình cứ giúp ; ông đừng có đón Thầy về nữa, tốn phí mà chẳng có lợi lộc gì. Theo tôi thì, cứ ăn ở cho phải đạo là tốt hơn cả.
ông Phú nhíu mày gắt nhẹ:
- Bà nói chuyện hay nhỉ? Thi ân bố đức thì lúc nào mà tôi chả rộng rãi hơn người? Cái dạo vỡ đê năm thìn, không có tôi bỏ tiền cứu lụt ở làng này, thì cả làng không có đủ đất mà chôn người chết, bà quên rồi hay sao? Rồi cái dạo năm Dậu bị hạn hán, củ chuối củng không có mà ăn, dân làng chết như rạ. Nửa năm trời tôi xuất kho phát chẩn cứu bao nhiêu người đều không là thì ân bố đức hay sao?
Bà Phú dè dặt góp ý:
- Hời... Nói của đáng tội, tiền của ông nội nhà mình thì đều là....là...
- Đều là thế nào? Có phải bà định bảo là tiền của phi nghĩa, bóc lột của người nghèo có phải không? Tôi cấm bà mở miệng nhắc đến việc ấy. Nghe lời những quân mất dạy ở ngoài đường.
Bà Phú nhẫn nhục phân trần:
- Sao mà cứ động một tí là ông cứ mắng tôi? Tôi là tôi vì ông, vì các con, nên mới bàn góp cho ông vài lời, chứ tôi có muốn nói ra làm gì? Tôi chỉ nhắc lại lời thầy địa lý bảo là mình phải làm phúc. ông cứu lụt rồi ông phát chẩn thì tôi quên làm sao được? Chính tôi cùng với người làm gánh từng gánh cơm ra đê cho người ta ăn mà. Rồi tôi múc cơm rồi tôi phát vải ra cho dân nghèo. ông tưởng tôi không nhớ hay sao? Nhưng mà ông ạ! Những việc ấy mình làm là vì lúc ấy ông định ra tranh cái ghế nghị viên, cần mua cảm tình của thiên hạ chứ không phải là vì lòng tốt đâu ông? Mình thì mình lừa người được chứ mình che mắt Thánh thế nào được?
ông Phú tái mặt quát lớn:
- Bà câm đi! Bà vào nhà này bưng bát cơm đầy, kẻ hầu người hạ, ăn trắng mặc trơn. Không nhớ ơn thì thôi, lại còn giở giọng bạc bẻo.
Bà Phú sợ quá vội lủi thủi bỏ vào nhà. Bà ngẩm nghĩ lại chuổi ngày dài đăng đẳng sống với chồng, sinh cho chồng bốn đứa con: hai trai, hai gái. Quả thực, miếng cơm manh áo thì bà chưa bao giờ phải bận tâm dù gia cảnh có sa sút đôi chút so với thời trước. Nhưng hai vợ chồng có những khác biệt quá sâu đậm về tính tình mà luôn luôn bà phải chịu đựng. Bà hiền lành bao nhiêu thì hình như ông Phú là người mang ác tính bẩm sinh.
Anh bếp Nhỡ ở với gia đình bà gần 10 năm, một hôm ăn cắp mấy đấu gạo mang về cho Mẹ già, bị cô con gái bắt gặp tri hô lên. Với bà Phú thì chuyện ấy nhỏ nhặt quá, chẳng có gì phải làm lớn. Bà gọi anh lại và mắng:
- Này, mày dốt vừa vừa thôi! Mày cần gạo sao không bảo tao một tiếng? Lần sau mà giở cái thói ăn cắp là chết với tao đấy nhé.
Bà nạt cho có lệ thôi, chứ bà biết Nhỡ hiền lành. Lấy trộm gạo là điều bất đắc dĩ. Nhưng không may cho Nhỡ là ông Phú ở trên nhà nghe thấy, ông gọi Nhỡ lên, phang cho mấy gậy gần què chân rồi đuổi thẳng, bà Phú xin mải cũng không được. ông bảo:
- Nuôi thứ ấy trong nhà thì thế nào cũng có ngày nó làm nội ứng dắt cướp vào. Đuổi nó đi, cẩn tắc vô ấy náy
Bà Phú dúi cho ít tiền và bảo Nhỡ mang về nhà cho mẹ già và dặn hễ khi nào túng quẩn quá, không biết trông vào đâu, thì tìm cách gặp riêng bà, bà sẽ giúp đỡ. Những việc nhân đức bà làm ngoài sự thúc đẩy tự nhiên do bản tính trời sinh, bà còn muốn thực hiện để phần nào trả nợ cho chồng, trả cái nợ do những hành vi bất chính và nhẩn tâm của ông Phú. Bà không phải là người sùng đạo của bất cứ tôn giáo nào, nhưng bà tin một cách đơn giản rằng: làm lành thì hưởng phước, gieo gió thì ắt có ngày gặt bảo.
Trước đó ông Phú có mối thù với ông Kháng Lạc chỉ vì tranh nhau mua lại mấy sào ruộng chiêm ở đầu làng. Việc chưa ngã ngủ, ông Phú cho người nhà nữa đêm lẻn đến nhà ông Lạc, ra lũy tre bên hông, dấu mấy chai rượu lậu và đồ nghề gần bờ ao rồi báo Tây đoan về bắt. Quả nhiên cái tết năm ấy, ông Lạc đi tù với đầy đủ tang vật: Cái nồi đồng ba mươi lưng lửng bá rượu, thúng gạo nếp đã vo sẳn, cái trỏ và hai cái bong bóng trâu. Toàn những thứ chỉ dùng cho việc nấu rượu.
Bà Phú biết việc này, nhưng không dám lên tiếng trách chồng, chỉ thở dài vì thấy chồng làm những điều thất đức quá. Bà lo cho đàn con mai sau phải gánh chịu hậu quả bởi bà vốn tin vào luật vay trả, vào thuyết quả báo. Con cái nhờ đức của cha, bà thường nghe nói thế, nên bà rất sợ cho hai cô con gái của mình.
Bốn đứa con của bà, Long đã có vợ hai con cũng ở ngay trong làng. Kim mới lấy chồng chưa có con, ở khác làng nhưng cùng tổng, cách một cánh đồng ngô. Còn con gái thứ ba là Nhàn và cậu út Hoành đang ở chung với bố mẹ. Gia đình như thế thì kể củng là ít người bởi căn nhà cổ kính truyền đã ba đời của ông Phú thuộc loại đồ sộ, tường xây mái ngói, cột gỗ lim, trông oai phong và vĩ đại lắm. Một cơ ngơi rộng rãi như vậy mà chỉ có hai vợ chồng, hai đứa con, thêm chị người làm và con mèo là hết.
Chị người làm ở với ông bà Phú đã 20 năm còn con mèo đen thì ông Phú nuôi từ khi mới đẻ đến nay đã lớn lắm, người ta cứ gọi nó là con cò con. Con mèo gắn bó với ông Phú, đi đâu nó cũng theo đấy, thậm chí ban đêm nó cũng chui vào buồng ngủ với ông. Ít khi thèm đi rình bắt chuột.
Làng Vạn Yên phần đông là người nghèo, mái tranh vách đất san sát bên nhau càng làm nổi bật căn nhà đồ sộ của ông Phú truyền từ đời ông nội để lại. Nhà dựng trên nền cao, mái ngói rêu phong cổ kính, với những cây cột gỗ lim đỏ thẳm, càng làm tăng thêm vẻ nghiêm trang và tăng thêm cái uy thế cho gia chủ mỗi khi người làng khúm núm đến vay nợ.
Nghề cho vay lãi cắt cỗ giúp cho ông Phú đã giàu thêm, bà Phú thường vẩn giấu chồng giảm tiền lời hoặc rộng lượng xí xóa mỗi khi con nợ gặp phải túng bấn,không trả nổi. Riêng ông thì một xu cũng không bỏ qua. Trong cái cơ ngơi khoảng khoắc ấy, gia đình ông Đào Ngọc Phú rất thanh thản, chẳng những vì của cải dư thừa mà vì các con đều ngoan ngoãn. Riêng bà Phú lại càng cảm thấy hạnh phúc vì Long đã cho bà hai đứa nội kháu khỉnh. Còn Kim tuy chưa có con, nhưng lấy dược chồng hiền, và cho đến nay thì gia đình chồng cũng tỏ ra quý dâu, chứ không hành hạ như nhiều gia đình khác ở làng Vạn Yên.
Bà tin rằng đó là do cái phúc mà đã tạo được quua những việc từ thiện. Nhưng chồng bà thì khác, mỗi khi nghe vợ khen bên thông gia đối xử tử tế với con gái ông, ông đều vênh mặt hiu hiu tự đắc nói:
- Họ sợ cái uy của tôi chứ tử tế cái gì? Bố bảo tụi nó cũng chẳng dám động đến cái Kim nhà này.
Bà Phú nén tiếng thở dài, cố đè nén nổi bực mình để khỏi cãi lại.
Cuộc sống đang bình thường như dòng nước êm trôi. Chỉ một buổi sáng tinh mơ, cả nhà chưa ai thức giấc, gà trong thôn chưa gáy tiếng thứ nhất. Bổng con mèo đen đang nằm thiu thiu trên cái ghế bên cạnh giường ông bà Phú, chồm lên lao vọt qua cửa sổ và kêu thét liên hồi, và cùng với tiếng thét ngân dài ấy, con mèo chạy vùn vụt trên mái ngói, vụt phóng xuống trước sân, gầm gừ rên rỉ như giận dữ. Mèo cắn nhau kêu lên là chuyện thường, nhưng bổng ông bà Phú nghe gõ cửa. Bà Phú giật mình ngồi nhổm dậy, quay đầu ngó qua khe cửa sổ, thấy trời còn tối lắm. Tưởng chồng chưa thức, bà rón rén bước xuống, không muốn làm mất giấc ngủ của chồng, bà vừa vấn tóc, vừa cằn nhằn nho nhỏ:
- Đứa nào mà gỏ cửa sớm thế này?
Nhưng ông Phú cũng đã dậy ngay từ lúc con mèo lao ra cửa sổ, ông định nhân tiện đi tiểu, nên bảo vợ:
- Bà cứ nằm đây, để tôi xem đứa nào mà dám đánh thức tôi với bà vào giờ này?
Trong thâm tâm, cả hai ông bà yên chí là chị Thuần, người giúp việc lâu năm của gia đình này hằng đêm ngủ dưới bếp, sáng nay bẩm báo việc gì gấp hoặc một trong hai đứa cởno buồng bên kia có chuyện phải gặp bố mẹ. ông xỏ guốc, đứng dậy tiến ra tháo then cửa. Trời mờ tối, lại dày đặc sương mù, ông mở to cặp mắt, chưa kịp lên tiếng thì giật mình ngạc nhiên thấy một đứa bé gái khoảng ba tuổi đứng dưới sân trong vùng sương mờ ảo, không trông rõ mặt. Con bé chià tay xin:
- Ông... ông làm ơn cho con nắm cơm... Con đói quá!
Đứa bé đứng ngay trước mặt ông, cách có mấy bước, nhưng giọng nói nghe âm vang xa lạ quá, như từ chốn thăm thẳm nào vọng về ; ông bực mình quát lớn theo thói quen hống hách của mình:
- Con cái nhà ai đi ăn xin nữa đêm thế này? Xéo ngay! Làm mất giấc ngủ của ông. ông lại vả cho mấy cái bây giờ.
Mặc cho phản ứng dữ tợn của ông, đứa bé vẫn đứng im ngước lên nhìn ông như thoát tục, mặt nó trắng toát, đôi mắt trừng trừng, nhìn ông đăm đăm. Khiến chỉ vài giây sau, ông đã mất hẳn bình tỉnh, và như có luồng gió lạnh buốt bất chợt thổi ập vào người, làm ông lẩy bẩy run sợ. Đứa bé lập lại bằng giọng sâu thẳm hơn:
- Con..Con đói quá, xin ông làm phúc cho con bát cơm.
ông Phú đứng á khẩu tại chỗ, mồm há ra, mắt tự nhiên lạc thần. Vừa lúc ấy có giọng nói đàn bà từ cổng đưa vào:
- Con ơi! về con ơi! Về với mẹ con ơi!
ông Phú kinh hãi nhìn ra cửa, thấy một người phụ nữ mặc đồ trắng toát, đứng tuốt ở cuối sân, sát cái cổng xây nhà ông giơ tay vẫy vẫy. Khoảng cách khá xa, lại gặp màn sương đục, ông không trông rõ mặt, chỉ thấy mái tóc dài đen nhánh phủ xuống vai nổi bật trên nền áo trắng. Ông còn đang ngơ ngác, mất thần thì con mèo đen từ lưng sau lao vụt xuống bên ông kêu thét lên, đôi mắt nó lông lên sòng sọc và nhe hàm răng nhọn hoắt ra gầm gừ, muốn lao lại vồ đứa bé. Hai chân với những móng sắt dài, nó cào liên tiếp trên nền gạch. ông Phú nghe rõ tim mình đập thình thịch như sắp phá vỡ lồng ngực. Thoáng trong chớp mắt, ông không còn thấy đứa bé nữa. ông ngước nhìn ra xa, thì hai cái bóng trắng ấy đã ra tuốt ngoài cuối sân,đang dắt tay nhau bước ra khỏi cổng nhà ông, và mất hút ở khóm tre bên đường.
Cả lúc sau, ông mới định thần, chập choạng bước lui vào nhà, miệng ú ớ kêu:
- Bà, bà ơi! bà..bà... bà ra ngay đây..bà ơi!
ông lùi hẳn vào bên trong, đóng ập cánh cửa lại, bà Phú từ trên giường bước xuống ngạc nhiên hỏi:
- Ủa cái thuần nó cần cái gì mà nó gọi sớm thế?
ông Phú run rẩy ngồi xuống giường lắc đầu lia lịa, một lúc sau ông mới lấy lại chút bình tỉnh bảo:
- Không! không phải cái Thuần.
- Ơ... không phải cái Thuần thì đứa nào mà gõ cửa sớm thế? Con Nhàn hay thằng Hoành?
ông Phú nắm chặt bàn tay vợ, còn bàn tay ông thì lạnh toát như nước đá, ông thở hổn hển bảo vợ:
- Bà... bà ra xem nó có còn ở ngoài ấy không?
Bà Phú không hiểu gì chỉ biết từ ngày về với ông Phú, hiếm thấy khi nào ông như thế này. Bà hỏi lại:
- Đứa nào mới được chứ?
- Đứa bé con.
Bà Phú càng ngạc nhiên:
- Đứa bé con nào? Nhà này làm gì có trẻ con?
- Không... biết con nhà ai mà nó đi xin ăn.
- Khổ thân! Ăn xin mà vào giờ này? Nhà này thiếu gì cơm nguội. Sao ông không cho nó một bát? thôi được, để tôi xuống bếp, tôi bảo cái Thuần nó lấy cho nó vậy.
Dứt lời, bà bước nhanh ra cửa, bởi vì bà vốn có lòng từ tâm. ông Phú nói với theo:
- Ừ... bà ra xem nó có còn ngoài sân không?
Rồi ông ngồi trố mắt nhìn theo, hồi hộp chờ đợi. Mở cửa, con mèo đen lao vụt vào, nhảy lên cái ghế thường của nó. Đêm tối, đôi mắt nó nhìn đăm đăm như hai ngọn lửa loé sáng có pha chút xíu màu đỏ. Bà Phú bước hẳn ra thềm, đứng nhìn quanh khắp sân và hai bên hiên, nhưng không thấy đứa bé nào cả. Bà nhướng mắt, cố phóng tầm nhìn ra phía cổng vì sương sơm dày đặc quá. Bà đứng trên thềm, quay đầu nói vọng vào:
- Có cái đứa nào đâu? Già trẻ lớn bé, chả có thấy ai hết. ông chỉ trông gà hóa cuốc, chứ có ăn mày nào mà dám vào nhà mình giờ này?
ông Phú lo lắng nói vọng ra:
- Không có ai thì bà vào đi. Bà vào rồi khép cửa lại.
Bà Phú làm theo lời chồng, trở vào giường nằm. Nhưng ông Phú bảo bà thắp cho ông ngọn đèn vặn lớn đặt trên cái bàn giữa nhà rồi vào nằm bên ông. Bà thấy rõ toàn thân ông Phú vẫn còn run lên bần bật từng cơn, ông kéo tấm chăn mỏng phủ lên tới cổ và mắt mở trừng trừng ngó lên trần. Bà Phú lấy làm lạ là tự dưng ông Phú chống bà lại đòi thắp đèn, bình thường khi đi ngủ, ông không chịu được ánh sáng dù chỉ một ngọn đèn leo lét dựng trên bàn thờ, ông cũng bắt che lại, đừng để lọt vào mắt ông. Có đèn ông không ngủ được, ông thường lập đi lập lại như thế!
Bà Phú xoay về phía ông, đưa một tay đặt lên trên trán, và lần xuống cánh tay, và bàn tay ông, thấy chỗ nào cũng lạnh toát, bà lo lắng hỏi:
- Sao mà lạnh hết lên thế này? Trời muà hè mà sao lạnh rét lên thế này?
Bà nghe thấy rõ hai hàm răng ông đập vào nhau lách cách như đi ngoài tời muà đông, gặp gió bấc thổi mạnh, bà đăm chiêu hỏi:
- Ông ơi, ông thấy trong người như thế nào? hay là lúc nãy ông mở cửa ra thì gặp luồng gió độc? Thôi cứ nằm yên đấy đi, tôi lấy lá dầu không tôi hơ lửa, tôi đánh gió cho ông nhé!
ông Phú lắc đầu, cố nói bằng giọng điềm tỉnh hơn:
- Có gì đâu! Nhưng mà bà nhớ là cả bà và tôi cùng nghe thấy tiếng gõ cửa, có phải không nào?
- Đúng rồi, tôi còn nghe thấy trước ông nữa kia mà. Tiếng con mèo nhà mình nó kêu trước rồi tiếng đập cửa sau.
ông Phú chậm rãi kể:
- Ừ! Bà làm chứng đấy nhé, rõ ràng là có tiếng gõ cửa. Tôi ra mở cửa thì thấy có đứa bé con đứng ở dưới sân chià tay xin cơm, da nó trắng xanh như con nhà giàu mà lại đi ăn xin vào giờ này, thế có lạ không? Tôi đuổi nó đi, thì nó cứ đứng im nhìn tôi, rồi tôi bổng nhiên lạnh buốt. Tháng này làm gì có gió lạnh?
ông đang nói dỡ câu thì bổng con mèo lại tru lên và lao xuống đất. Lần này nó không phóng qua cửa sổ phía sau mà chồm lên, cào mạnh trên cánh cửa ra vào, nhe răng gầm gừ liên tục. ông Phú đang nói, quay mặt lại, nắm chặt cánh tay vợ, trố mắt nhìn theo con mèo. Vài giây sau quả nhiên có tiếng gõ cửa, ông Phú toan hét lên vì kinh sợ, nhưng ông nằm bất động, níu cánh tay vợ thật chặt. Tiếng gõ càng thôi thúc khiến con mèo chồm lên gào cánh cửa, tiếng gầm gừ càng thảm thiết hơn, ông run lập cập bảo bà:
- Nó... nó... nó đấy bà, nó chưa đi đâu.
Bà Phú gỡ tay chồng ra và bảo:
- Ra cho nó bát cơm để nó đi. Rõ lẩn thẩn! Đêm hôm khuya khoắt thế này nó vào đây xin bát cơm, chả lẻ đuổi nó đi à? Thôi được rồi, ông cứ nằm im đó đi. Tôi xuống bếp lấy cơm cho nó.
Bà tuột nhanh xuống giường, xỏ guốc đi ra. öng Phú ngồi bật lên, trố mắt nhìn theo chờ đợi. Bà Phú vừa tháo then ngang, vừa nói lớn:
- Đứa nào đập cửa đấy? Từ từ rồi tao mở, làm cái gỉ mà inh ỏi lên thế?
Rồi bà mở rộng cánh cửa gỗ, con mèo liền đi ra, nhưng chỉ vài giây sau bước vào, nhẹ nhàng nằm khoang thai bên ông Phú. Bà Phú bước ra thềm, ngạc nhiên chẳng thấy ai. Bà đứng trên hiên, nhìn ra phía cổng, cũng chẳng thấy bóng người nào. Bà bực mình hỏi lớn:
- Đứa nào đập cửa nhà bà đấy?
Không có ai đáp lại, bà buột miệng nói:
- Lạ nhỉ? Rõ ràng là vừa đập cửa cơ mà, biến đi đâu mà nhanh thật đấy? Này này, con cái nhà ai mà nghịch như quỷ thế hả? Bà mà túm được là mày chết với bà đấy!
Bà đứng thêm một lúc rồi vén mùng quay vào nằm bên chồng, ông Phú hồi hộp hỏi:
- Bà có thấy đứa bé không?
- Có thấy gì đâu?
- Ơ! Mà rõ ràng cả hai lần nó gõ cửa bà đều nghe thấy chứ đâu phải là tôi ngủ mê! Lần trước tôi ra, thì nó đứng ngay trước mặt tôi, bận này bà ra thì lại không thấy, thế này là thế nào?
Cả hai cùng im lặng vì cả hai không tìm ra được câu trả lời, một hồi ông Phú hạ giọng nói như tự hỏi:
- Chả biết là người hay là ma?
Bà Phú đáp ngay:
- Ma với quỷ cái gì? Chắc đứa nào nó trêu mình!
Tuy bà nói thế nhưng lòng bà bắt đầu thắc mắc, vì bà biết làm gì có đứa nào dám trêu chọc bà ở giữa khuya khoắt như thế này? Ban ngày còn chả dám huống chi là ban đêm. Đắn đo một chút bà hỏi:
- Mà này ông! Thế ông thấy đứa bé thật à? ông có chắc không đấy?
ông Phú gắt nhẹ:
- Bà ơi, tôi ngần này tuổi. Cả đời có biết ma là cái gì đâu. Nhưng mà hôm nay... hôm nay thì tôi thấy lạ lắm....
Bà Phú ngắt lời:
- Tôi thì..tôi chỉ sợ ông ngáy ngủ, mắt nom không rõ thôi. Chứ ông nghĩ mà xem ăn xin gì... chả ai ăn xin vào lúc nữa đêm như thế này! huống hồ trẻ con thì giờ này ngủ say như chết ấy, lay không dậy nổi chớ đừng nói là giờ này lang thang ngoài đường!
ông Phú càng kinh sợ qua những lời vợ ông vừa nói thì rõ ràng là ma chứ không phải là người. Bà Phú bổng nhổm dậy, bước nhanh xuống giường, ông Phú hốt hoảng hỏi:
- Bà đi đâu đấy?
Bà Phú vừa xỏ guốc vừa đáp:
- Tôi đi gọi cái Thuần
Bà mạnh dạn bước ra tháo then cửa, khe khẻ hé mở, tiếng bản lề để lâu ngày rỉ sét, kêu lên kèn kẹt. bà mở to mắt nhìn xa xa, dĩ nhiên không thấy ai, sương vẫn dày đặc trong không gian mờ tối. Bà bước hẳn ra, đứng lại một lúc trên thềm không thấy động tỉnh gì, bà mới đi nhanh xuống bếp và gọi:
- Thuần ơi!
Chị người làm nằm trên cái giường kê sát cửa bếp, ngồi dậy vấn tóc và đáp:
- Ớ! Bà gọi con ạ? Có việc gì sớm thế ạ?
Bà Phú ngồi xuống bên cạnh và hỏi:
- Này, tối ngày hôm qua mày quên đóng cửa phải không?
Chị Thuần quả quyết:
- Ấy chết! Sao bà nói thế ạ? Con đóng cổng, cài then cẩn thận lắm, quên làm sao được ạ? Có cô Nhàn làm chứng, lúc đó cô con vừa tắm ở dưới ao lên, đi ra cổng cùng với con. Bà không tin thì hỏi cô con là biết ngay ấy.
Bà Phú ngồi thừ người im lặng, chị người làm sốt ruột hỏi thêm:
- Có cái gì thế bà? Có việc gì thế bà? Trộm vào nhà mình hở bà? hay là có chuyện gì không? Bà làm con lo quá bà ạ!
Bà Phú không muốn để chị người làm kinh hãi, sợ chị sẽ kể với hai đứa con, cho nên bà đứng dậy và bảo:
- Không, tao chỉ hỏi thế thôi!
Rồi bà bước ra sân, vừa đi vừa nhìn xung quanh một lần nữa.
ông Phú vẫn nằm nhắm mắt trên giường, nghe tiếng chân vợ vội lên tiếng:
- Bà kể với cái Thuần ấy à?
- Không, tôi chỉ hỏi nó là tối hôm qua nó có đóng cổng hay không thôi.
- Rồi nó bảo sao?
- Nó quả quyết là nó có đóng, có cả cái Nhàn ra cùng đóng cổng với nó.
Dứt lời, bà mén vùng chui vào, ngả người nằm xuống và nói bâng quơ:
- Lạ thật đấy, tôi thì tôi vẫn cứ cho là ông quáng gà chứ làm gì có đứa bé con nào?
ông Phú đã bình tĩnh trở lại, ông gắt nhẹ:
- Ừ thì cứ cho là tôi nhìn lầm đi. Nhưng cả hai lần nó gõ cửa, bà đều nghe thấy, chứ nào phải riêng tôi? hỏi bà ai gõ mới được chứ? Đây nhé, vừa nghe tiếng gõ cửa bà chạy ra ngay lập tức, mà không thấy ai, tôi hỏi bà cái sân nhà mình nó trống hốc ấy. Giả như có đứa nào nó cố ý trêu tôi với bà, thì nó núp vào đâu?Nó vừa gõ cửa, bà ra ngay cơ mà! Người mà chạy nhanh đến thế hay sao? Bà thử nghĩ xem!
Nghe những lời phân tích ấy, bà cho là chồng hoàn toàn có lý, buộc miệng nói theo:
- Ờ, sân nhà mình thì làm gì có chỗ núp ông nhỉ?
ông Phú càng tin là mình đã gặp ma, rồi từ đó hai người im lặng nằm bên nhau, mỗi người theo đuổi một ý nghĩ. Mãi cho đến khi gà trong xóm rộn rã gáy khắp lượt, tiếng bước chân, tiếng nói chuyện huyên náo của dân làng kéo nhau ra đồng trên con đường đất rộng chạy ngang trước nhà. ông Phú mới mệt mỏi ngồi dậy ra thềm đứng nhìn khoảng sân gạch đang sáng dần trong ánh bình minh.
Mặt trời lên, làm ông thấy tỉnh táo hẳn, không còn sợ hãi như trong đêm. ông bước xuống sân thong thả đi ra cổng, và quả nhiên thấy cánh cổng vẩn còn khép kín, cài then trong với chiếc khóa đồng to bản vẩn nằm im ở vị trí thường lệ. Nhà ông từ mấy đời vì của cải khá nhiều nên xây tường bao quanh, và đêm đêm bao giờ cũng đóng then để đề phòng trộm cắp. Cổng khóa có nghĩa là người lớn không hề vào được, huống hồ là đứa con nít ba bốn tuổi. ông thơ thẩn quay vào, đi quanh một vòng.
Mặt trời lấp ló sau rặng tre, chiếu những tia nắng ban mai rực rỡ, in bóng ông chạy dài in trên nền gạch. ông bước lên hiên, uể oải ngồi xuống bậc thềm ngay chỗ sáng nay ông đúng nói chuyện với đứa bé lạ mặt. Con mèo đen lấm lét bước theo, rồi leo lên nằm trên đùi ông.
Bà Phú từ dưới bếp đi lên bưng khay trà toan bước vào nhà để đặt lên bàn cho chồng như thường lệ. Nhưng ông Phú vẫy bà, chỉ tay xuống sân và nói:
- Chỗ này nè bà! Nó đứng ngay chỗ này này.
Bà Phú đặt khay trà trên hè và cũng ngồi xuống bên cây cột gỗ lim. Bà lật hai cái cốc thủy tinh rồi rót nước trà, hơi nóng bốc lên nhè nhẹ. ông Phú có thói quen sáng thức dậy là phải uống ngay một cốc nước trà thật nóng và thật đặc trước khi ra hông nhà bếp xúc miệng rửa mặt. Nhìn nét ưu tư trong ánh mắt chồng, bà Phú tự hỏi:
- Hay là thật sự có đứa bé hàng xóm nữa đêm lẻn vào chọc ghẹo, cốt để làm cho vợ chồng bà sợ? Trẻ con làng này thì có thiếu gì đứa quấy phá thiên hạ.
Nghĩ thế, bà hỏi:
- Này, nó... nó... con cái nhà ai? ông thấy mặt mũi nó ra làm sao? ông có nhớ nó không?
- Nào tôi có biết. Bây giờ nghĩ lại tôi thấy chắc một điều là nó không phải là đứa bé ăn xin. Con nhà ăn mày làm gì có quần áo trắng tinh như thế! Với lại bà nói đúng, bố mẹ nào mà xui con đi ăn xin mà lại đập cửa nhà người ta giữa nữa đêm như thế. Người ta đánh cho què chân chứ lị!
Tất cả những nhận xét của ông Phú, thật ra bà Phú đã nghĩ đến từ nãy đến giờ, nhưng không muốn nói ra sợ làm chồng càng thêm sợ, bà chỉ khẻ gật đầu tỏ vẻ đồng ý, ông Phú lại thêm:
- Bà ạ, tôi vừa ra coi lại ngoài cổng, thì cổng vẩn còn khóa
Bà Phú bưng cốc nước nóng xoay xoay trên tay quay sang nhìn chồng. Một người bản tính hung hăng như chồng bà mà từ lúc nhìn thấy đứa bé lạ mặt trong đêm khuya, bổng dưng biến thành con người khác với những sợ sệt không che dấu nổi, thì chắc hẳn đứa bé ấy có cái ma lực gì ghê gớm lắm. Có thể nó là một oan hồn từ khu nghĩa trang ngay sau vườn nhà bà hiện về chăng? Nhưng bà lại lắc đầu gạt đi vì bà nhớ lại 20 người chôn sau nhà bà không ai chết trẻ. Đó là điều làm cho bà vẫn còn ngờ ngợ, nữa tin nữa không tin. Bà phân vân hỏi chồng:
- Ý ông thì....thì ông nhất định cho rằng đứa bé ấy nó... nó... không phải là người à?
- Ma chứ không phải là người. Bà nhớ lại mà xem, có bao giờ con mèo nhà mình nó lồng lộn như đêm hôm qua đâu? Hễ nó gào lên, là lập tức có tiếng gõ cửa. Giống mèo nó nhận được ma ấy bà ạ! Bà không nghe người ta kể là quỷ nhập tràng hay sao?
- Có, có nghe! Nhưng mà quỷ nhập tràng nghĩa là quan tài người chết vẫn quàng trong nhà chưa đem chôn, nếu như mà có con mèo đen nó nhảy qua thì quan tài sẽ đứng bật dậy, rồi nắp quan tài bung ra, rồi người chết đuổi theo con mèo. Tôi thì tôi nghe người ta kể như thế.
Bất giác, ông Phú cuối xuống nhìn con mèo đen của mình đang nằm bên cạnh đùi ông. Và tự dưng ông thấy rờn rợn vì biết đâu nó chẳng biến thành tinh khi gặp quan tài người chết. Bà Phú uống ngụm nước, đặt lên, rồi trầm ngâm tiếp:
-..Tôi, thì tôi về ở với ông hơn hai mươi mấy năm rồi trong cái căn nhà này, chưa hề nghe nói nhà mình có mà bao giờ. Nhưng mà hôm nay nếu ông tin là có ma, thì để tôi bảo cái Thuần nó chạy đi mời Thầy, Thầy Lĩnh Quang ở bên Xuân Diễn ấy. Ngoài chợ người ta cứ đồn là Thầy Lĩnh Quang cao tay lắm. Thầy sai được cả âm binh và có phép mỡ mả chị thằng Trùng ấy. Để tôi thỉnh Thầy về cúng kiến xem sao, đuổi hồn ma đi khỏi quấy rầy nhà mình ông nhé.
ông Phú giơ tay ngăn lại:
- Hẳng khoan bà, tôi không muốn cái chuyện này ầm ỉ lên. Từ từ xem thế nào đã. Cần thì cũng phải mời nhưng thư vài hôm nữa xem sao.
Bà Phú đồng ý ngay:
- Thì tôi sợ ông lo quá rồi thành bệnh nên tôi mới đề nghị ông như thế, chứ thật ra tôi đâu muốn chuyện này nó lan ra ngoài cho thiên hạ biết đâu. Miệng đời nó ác dộc lắm! Người ta lại bảo là nhà mình thất đức bị trả quả báo.
Hai chữ thất đức, bà Phú nhấn mạnh để ám chỉ chính ông chồng những năm tháng đã qua. ông Phú dường như cũng biết ý vợ nên chớp mắt nâng ly trà hớp một ngụm lớn rồi không nói gì. Bà Phú liếc mắt nhìn chồng, thấy ông đã tỉnh hẳn chứ không lạnh người như trong đêm. Tuy vậy ánh mắt ông vẫn nặng trĩu ưu tư và da mặt sáng nay chợt xanh xao như người sốt rét lâu năm. Để trấn an ông, bà quay về với luận ngữ cũ hy vọng giúp chồng quên hẳn nổi sợ hãi vừa xảy ra, bà bảo:
- Trời ơi, đêm qua ông làm tôi sợ quá, tôi tưởng ông lên cơn sốt rét.
ông Phú gật đầu rồi nói:
- Bà nhớ đấy nhé, bà đừng dể hở cái câu chuyện nhà mình cho người ngoài nghe đấy nhé! Con Thuần, cái Nhàn, thằng Hoành, bà không được nói với chúng nó.
Bà Phú đồng ý ngay, bà nhắc lại:
- Với lại đã chắc gì là ma? ông bảo sáng nay ông nom thấy đứa bé đứng ở đây xin cơm, nhưng mà khi tôi mở cửa ra, tôi chả thấy đứa bé nào cả. Tôi thì tôi chỉ sợ lúc ấy ông ngái ngủ, mắt nhắm mắt ngủ, trời lại lắm sương mù cho nên ông nom cái nọ nó xọ ra cái kia chăng?
Ông Phú cũng mong như thế, mong rằng hình ảnh đứa bé sáng nay ông thấy đứa bé trước cửa nhà ông cũng như người đàn bà đứng ngoài cổng, đều chỉ là ảo giác. Nhưng rõ ràng không phải, ông nom thấy thật, ông ônở nụ cười héo hắt bảo vợ:
- Tôi là chúa ghét chuyện nhảm nhí, ghét những chuyện mê tín dị đoan, bà thì còn hay tin vớ vẩn chứ bà có thấy tôi tin ma quỉ bao giờ? Ấy thế mà bây giờ chính tôi lại gặp.
ông vừa dứt lời thì từ dưới bếp, chị người làm và hai đứa con cùng kéo lên, cái Nhàn hơn 20 tuổi, con gái cưng của bà Phú. Thằng Hoành 16 tuổi, học chữ Quốc ngữ hết lớp ba bậc Tiểu học thì trường làng không còn lớp cho nó tiếp tục nên đành quanh quẩn ở nhà. Nhàn ngồi xuống bên cạnh mẹ và hỏi một cách lo lắng:
- Nhà có việc gì thế hở mẹ? Đêm qua có trộm hay sao mà sáng nay con thấy mẹ xuống bếp đánh thức chị Thuần sớm thế?
ông Phú đưa mắt nhìn vợ làm hiệu, bà Phú vội xua tay phân trần:
- Trộm đâu mà trộm, mẹ chỉ hỏi chị Thuần là có quên khóa cổng hay không thôi.
Cái Nhàn thắc mắc hỏi:
- Ơ... nhưng mà rõ ràng con nghe tiếng bố nói chuyện với ai ngoài hè cơ mà? Lúc đó con giật mình thức dậy, con tính con chạy ra con thấy mẹ chạy xuống bếp gọi chị Thuần.
Bà Phú cười đẩy con:
- Bố mày mê ngủ đấy chứ có nói chuyện với ai đâu! Chuyện vãn gì nữa đêm vậy?
Thằng Hoành ngồi xuống bên cạnh chị, chăm chú theo dõi nhưng không nói lời nào, chị người làm lên tiếng đổi đề tài:
- Hôm nay bà với cô Nhàn có đi chợ không ạ? Để con mang quang gánh ra cho bà.
Bà Phú quay sang hỏi con gái:
- Đi hay ở nhà con?
Nhàn ngạc nhiên nhìn mẹ và đáp:
- Đi chứ mẹ! Chợ phiên mà! Mẹ bảo là mẹ mua vải may cho con và thằng Hoành mỗi đứa hai cái áo cánh mà!
Bà Phú thở dài:
- Ờ... ừ... thì đi, nếu đi thì phải đi cho sơm con ạ. Hôm nay sương nhiều, chốc nữa nắng to phải biết.
Rồi bà quay sang chồng:
- Thế ông có cần mua cái gì không?
ông Phú uể oải đáp:
- Bà xem trong tủ có còn chè mạn sen không? Hết thì mua cho tôi mấy gói.
Bà Phú đứng dậy bước vào nhà và nói:
- Ừ, để tôi xem coi
Rồi bà giục con gái chuẩn bị lên đường, bà bảo chị người làm:
- Lấy cái thúng được rồi. Có mua gì nhiều đâu mà cần quang với gánh.
Chị Thuần và Nhàn xuống bếp, thằng Hoành ra vườn sau xem tổ chim trên cây bưởi, chỉ còn mình ông Phú ưu tư ngồi trên
thềm nhìn ra cổng, không nói lời nào. Nổi lo sợ trong đêm gần như tan biến hết dưới ánh sáng mặt trời. ông ngẩm nghĩ mãi về cuộc đời, ông không hiểu tại sao ông lại gặp ma, hay đúng hơn là tại sao ma lại đến với ông?
Những câu chuyện về thế giới bên kia, về oan hồn vươn vấn dương gian. Ai mà chả từng nghe kể, mà chỉ toàn là tưởng tượng, là hoang đường, chứ có ai tận mắt gặp phải hồn ma bao giờ? Cả đời ông vẫn tin như thế cho đến đêm qua thì suy nghĩ của ông rẻ hẳn sang một khúc quanh khác. Chuyện tiếp xúc với cõi âm là có thật, chứ chẳng phải là ảo giác thêm mắm thêm muối cho hấp dẫn người đời. ông mong rằng câu chuyện sẽ kết thúc ở đây, đừng tái diễn thêm một lần nào nữa. ông thở mạnh, vói tay lấy cái điếu cày, rồi tình cờ ngước lên ngọn cây soan mọc ở đầu nhà, trên một nhánh khác có con quạ đen đậu từ lúc nào, mắt đăm đăm nhìn ông. ông vung tay đuổi, con quạ vẫn lì lợm đứng tại chỗ, ông tìm cục đá nhỏ quăng lên, con quạ vỗ cánh đảo một vòng rồi trở về chổ cũ và vẫn nhìn ông soi mói, khiến ông hoang mang, đứng dậy bỏ vào nhà.
Một ngày trôi qua rất nhanh, buổi trưa ông thơ thẩn đi bách bộ trên thềm nhà dưới mái hiên dịu mát. Bà Phú và Nhàn đi chợ chưa về, con mèo đen đang lửng thửng bước theo ông trên trên hè bổng dưng thét lên rồi chạy vụt ra cái cổng chính, rồi cứ thế nó nhảy chồm lên cào vào cánh cổng như đang quần thảo với một kẻ thù vô hình nào đó rất hung dữ. ông Phú đứng trên nhà, toàn thân nổi da gà, trố mắt nhìn ra dù không thấy gì ngoài con mèo một mình gầm thét và cào cấu.
Một lúc sau, con mèo ngừng kêu, đứng lặng im trước bụi tre một lúc rồi quay vào với ông. ông thở hổn hển, ngồi xuống bậc thềm xoa lưng nó bởi biết rằng hồn ma vừa hiện vào cổng trước nhà ông, nhưng có lẽ vào ban ngày, ông không thấy được. Tuy nhiên, nhìn vào cảnh tượng ấy, ông cũng thấy rõ là người xưa nói không sai: chung quanh người sống, có biết bao nhiêu hồn người chết đang lởn vởn bên cạnh, mà mắt trần gian không trông thấy được.
Biết đâu trong lúc này, ông đang ngồi đây thì hai cái bóng ma xa hai mẹ con xa lạ đó cũng đang ngồi sát bên ông mà ông không biết. ông hoang mang nghĩ ngợi mãi cho đến lúc vợ ông và cô con gái đi chợ về, ông mới gượng cười đứng dậy, và cũng không kể cho ai nghe câu chuyện con mèo vừa đánh nhau với ma ở ngoài cổng.
Hiện tượng quái dị ấy tuy có làm ông sợ, nhưng dù sao đi nữa nó cũng diễn ra vào ban ngày, ông không hãi hùng lắm. ông chỉ lo đêm nay, đứa bé con mặc đồ trắng sẽ lại gõ cửa tìm ông. Cho nên buổi chiều, ông lặng lẽ ra nghĩa trang sau nhà thắp nhang từng ngôi mộ. Thành khẩn cầu xin tổ tiên phù hộ cho ông qua cơn khủng hoảng. Có nghĩa là đừng để hồn ma đứa bé tìm ông một lần nữa.
Lần đầu tiên trong nghĩa trang của chính gia đình ông, mà ông cảm thấy cái không khí rờn rợn, vương đầy tử khí. ông vừa nhắm mắt để khấn nguyện thì chợt linh cảm từ phía sau có người nào đó đang nhìn ông, ông quay đầu lại thì chẳng thấy ai. ông nhắm mắt đọc kinh tiếp thì lại thấy rõ có ai đứng nhìn lén mình, ông quay lại nữa, thì chợt nhận ra con quạ đen đậu trên cành đa chỉ cách ông có mấy thước, ông giựt mình, nhặt cục đá ném lên, con quạ kêu lên mấy tiếng ai oán rồi bay về chờ ông trên nhánh cây soan bên hông nhà. Buổi tối ông ăn qua loa mấy chén cơm rồi vào buồng vì ông sợ bóng tối ngoài sân cũng như trong các lùm cây. Lên giường nằm, ông trằn trọc thao thức mãi. Bà Phú thắp nhang trên bàn thờ rồi chìu chồng cũng lên giường sớm và con mèo đen theo thói quen, nhảy lên cái ghế dành cho nó bên cạnh giường.
Bà Phú kể cho chồng nghe các thứ chuyện vặt vãnh ngoài chợ, tránh nhắc đến chuyện đêm qua, để khỏi làm chồng thêm sợ. ông Phú nghe vợ nói chuyện, cũng ậm ừ cho qua, nhưng rõ ràng ông không chú ý vì đầu óc vẫn đang vướng bận, cố gạt đi mà không gạt nổi. Gần nữa đêm bà Phú mệt mỏi ngủ mất trong khi ông vẫn còn trăng trở, hết xoay bên phải lại đổi sang bên trái. Nằm lâu ông buồn tiểu lắm, nhưng không dám đi một mình, mà chẳng lẽ lại đánh thức vợ dậy để rũ vợ cùng đi chung với mình. Nhà cầu nằm mãi sau bếp, ông tưởng tượng giờ này ông phải băng ngang mảnh sân ra đó, bất chợt đang đi mà hai cái bóng trắng lao ra chắn lối, thì chắc chắn có thể làm ông kinh sợ đến ngất đi được.
ông nén tiếng thở dài, nhắm mắt lại cố dỗ giấc ngủ. Bên ngoài trời đã khuya lắm, ông gnhe tiếng sương đêm từng giọt đều đặn từ mái ngói đến sân gạch, ông kéo tấm chăn phủ kín trên mặt rồi cảm thấy rất khó chịu vì ngộp thở. Không gian hoàn toàn tỉnh mịch, trời đứng gió, ngoài vườn bao nhiêu cây lá không một chút lay động.
ông hồi tưởng lại bao nhiêu năm sống ở làng này, từ thuở thiếu thời, ông đã lang thang một mình trên đường khuya, dù là đêm trăng sáng hay đêm tối trời, có bao giờ biết sợ là gì? Rồi sau này khi lập gia đình, có địa vị trong làng xóm, cũng biết bao đêm ông đi uống rượu ở nhà người này, người kia. Hoặc khi ra sân đình xem hát chèo, rồi một mình trở về trên những khúc đường vắng lặng, chỉ có tàn tre hai bên rũ xuống, chuyện ma quỷ có khi nào làm cản trở bước chân lịch lãm của ông đâu? Ấy thế mà từ đêm qua đến giờ, hễ nhìn thấy bóng đêm là ông run sợ. Vườn nhà ông cây trái xum xuê, từ nay ông chỉ dám ra chơi ban ngày mà thôi. Ông nhớ có lần nghe người ta bảo ma lúc nào cũng hiện diện quanh ta, nhưng chỉ người nào ma muốn cho thấy, thì mới thấy được. ông tự hỏi tại sao ma lại chọn ông để hù dọa?. ông nghĩ mãi không tìm ra lý do. Một lúc sau, ông Phú vừa lật người nằm ngửa, thì bổng con mèo bên cạnh ông kêu rú lên, lao vọt qua cửa sổ, và chạy vùn vụt trên mái nhà, tiếng gào thét như xé màn đêm. Sau đó có tiếng gỏ cửa phía trước, ông Phú giật thót người, hất mạnh tấm chăn ra khỏi, ngóc đầu dậy lắng nghe. Vẫn những tiếng cọc cọc giống hệt đêm qua.
ông hít thở chờ đợi, tiếng gõ vang lên như giục giã, ông đưa mắt nhìn vợ, hy vọng là bà cũng nghe thấy. Nhưng bà vẫn đang say giấc nồng, hơi thở vẫn đang đều đều, chứng tỏ bà vẫn chưa thức giấc. ông Phú khẻ lay vai vợ, bà Phú trở người nằm nghiêng, úp mặt vào tường, xoay lưng về phía ông. Tiếng gõ cữa vẫn tiếp tục, tiếng mèo gào thê lương vẫn vang lên rộn rã, tiếng móng vuốt cào cào rin rít trên cánh cửa gỗ. ông Phú như người say thuốc, như kẻ bị hớp hồn, nữa tỉnh nữa mê, mất hết tự chủ, tung chăn bước xuống giường, thất thểu đi ra, ông tháo then ngang, đẩy rộng cánh cửa. Con mèo đen lao vọt lại chân ông, cắn gấu quần ông, lôi thật mạnh, như cố ý kéo ông vào nhà. Nhưng ông cứ đứng yên như người bị thôi miên...
Công việc làm ăn ngày càng phát đạt. Có lẽ cũng chẳng cần mất từng ấy năm mới đi vào nề nếp và đảm bảo cho người sáng lập sự độc lập về tài chính mà nếu không có nó thì cũng khó mà tìm thấy sự thoải mái về mặt tinh thần. Cũng cần phải nói là còn nhờ vào nghệ thuật quảng cáo, rất cần thiết trên các báo chí chuyên ngành mà giữ vẫn được luồng thông tin đối với khách hàng, rồi những lời rỉ tai từ người nọ đến người kia đã góp phần xây dựng vẫn chắc uy tính của Phu nhân Nadia… Thực ra, tên thì đúng như vậy nhưng gọi là Phu nhân thì không đúng vì Nadia chưa kết hôn. Và có trời mới biết sao mà chị đẹp đến thế và có thể nói là có sức quyến rũ đến như vậy! Làn tóc nâu hung mượt mà ôm lấy khuông mặt trái xoan với cái miệng có đôi môi như vẽ dường như chỉ biết hé cười, và sống mũi dọc dừa thanh tú tưởng như bất cứ một chuyên gia nghệ thuật chỉnh hình tài năng nào cũng không thể tạo nên được. Đôi mắt mênh mông, long lanh sáng lần lượt chuyển từ màu xanh sang màu xám tùy theo giờ giấc trong ngày hoặc đêm và tùy theo cả những ánh phản quang của đám đông mà đôi mắt đó quan sát. Thân hình cân đối, cổ tay tròn lẳn, bắp chân thon thả vững vàng; ngắm từ xa, phu nhân Nadia, là một trong những nhà nữ ngoại cảm xinh đẹp nhất mà đã lâu người ta không nhìn thấy ở Pari. Phải nói thêm là ngoài vẽ đẹp duyên dáng mặn mà, nàng còn rất thông minh.
Cũng từ đó mà trí tuệ tung cánh vào cuộc; một trí tuệ không bị ràng buộc hạn chế và vô cùng mẫn tiệp đã giúp nàng hành nghề với đức tự tin tuyệt đối. Lúc này, nàng chưa tới ba mươi tuổi mà danh tiếng đã vang lừng vượt ra ngoài biên giới. Cũng vì thế mà nảy ra lòng ghen ghét, đố kỵ và hình như cả sự căm thù của số lớn những đối thủ cạnh tranh. Không một nhà nữ ngoại cảm hoặc một nam thuật sỹ nào mà không mơ ước được ngang tài và nổi danh như người phụ nữ đó. Còn Nadia, may thay, thật khôn ngoan, cô đã bỏ ngoài tai tất cả những lời khen chê nhiều khi thật là vô nghĩa.
Nàng sống trong một thế giới khép kín, trừ một vài ngoại lệ hiếm hoi, thực sự là một thế giới của riêng mình khi nào ngừng công việc coi vận mệnh tướng số (công việc này thường choán mất phần lớn thời gian trong ngày), nàng lại trở về với bà già Vêra.
Một bà già rất lạ kỳ! Ở tuổi bảy mươi sáu, bà nhìn thấy hết, nghe thấy hết, biết hết nhưng không vì thế mà sức mạnh cá tính của bà cùn nhụt hay thui chột đi. Là bà ngoại của cô cháu độc nhất và cũng là người thân độc nhất còn sót lại của gia đình và dòng họ là cô bé Nadia, bà Vêra Winowa đã truyền thụ cho cháu nhiều bí mật sâu kín giúp cho một thiếu nữ mau ***ng trở thành một thanh nữ rồi một phụ nữ không những đủ sức mạnh để đối diện với những gian truân của cuộc sống mà còn có thể giúp đở được đồng loại. Mặc dù tuổi tác đã cao nhưng bà Vêra còn rất nhanh nhẹn hoạt bác, gánh phần trách nhiệm, trong phòng xem vận số, tất cả những gì làm bộn rộn tới Nadia. Bà là người tự tay bóc các thư tín, ghi lại những cuộc hẹn qua điện thoại đối với khách hàng đặc biệt chứ không phải đối với bất cứ ai mời đến. Những người này thì xin cứ vui lòng ngồi chờ tới lượt mình ở phòng đợi. Cũng chính bà Vêra là người mở cửa và niềm nở đón khách. Trước khi đưa vào phòng Nadia, các vị này đều bị đôi mắt đen nhỏ nheo nheo vẻ tinh quái của bà già có mái tóc bạc trắng như cước quan sát tỉ mỉ, dò xét và phân tích. Nadia và bà Vêra đã trở thành một cặp thật là ăn ý.
Vào một buổi chiều, lúc mà Nadia tưởng là không còn ai ở phòng chờ, sắp sửa rời phòng chiêm lý, kết thúc một ngày làm việc căng thẳng: suốt tám giờ liền Phu nhân Nadia tiếp tám vị khách (mỗi giờ một vị) thì bà Vêra đi vào và báo với cô còn một bà khách rất mong được tiếp.
− Tại sao bà lại còn cho bà ta vào? – Nadia mệt mỏi hỏi bà – Đáng lẽ bà nên bảo là đã hết giờ và mời bà ta trở lại ngày mai vào 10 giờ sáng và sẽ được tiếp đầu tiên. Trông bà ta thế nào hả bà?
− Cũng khó nói đấy! Để tự cháu nhận xét thì hơn… Tuy vậy, nhìn bề ngoài, bà thấy có ba điểm: chị ta rất đẹp, trang nhã và lịch sự.
− Bà cho chị ta vào đi, nhưng sau đó dứt khoát không tiếp ai nữa đâu nhé! Cháu mệt lắm rồi!
Bà Vêra đã nhận xét đúng: rõ ràng là ở chị ta nổi bật lên ba “đặc điểm” đó, nhưng sắc đẹp thì lạnh, vẻ trang nhã: thiếu tự nhiên, còn dáng lịch sự: hơi quá cầu kỳ. Mái tóc nâu, kéo ra làm thành những giải che vầng tráng và hai tai, quấn lại thành một búi nặng buông thõng xuống sau gáy, thực ra cũng không đến nỗi thiếu vẻ duyên dáng xưa cũ. Tuy vậy, người phụ nữ còn quá trẻ, Nadia ước đoán là chị ta cũng chỉ sàn sàn tuổi mình. Đôi mắt đen với cái nhìn huyễn hoặc lạ kỳ nhưng thiếu sự nóng ấm. Cuối cùng là giọng nói, trầm buồn, dường như mỗi âm tiết đều được cân nhắc thận trọng trước khi thoát ra khỏi đôi môi mỏng đầy vẻ cay nghiệt. Một giọng nói chắc là không phải luôn luôn vui vẻ:
− Xin thứ lỗi, thưa bà tôi đến quá muộn và rất biết ơn bà đã vui lòng tiếp.
− Tôi chỉ làm tròn phận sự của mình thôi, thưa bà – Nadia lịch sự đáp – Nhất là có trường hợp khẩn cấp. Tôi xin nghe đây.
− Thưa, thế này… Đã mấy tháng nay, tôi bị ám ảnh bới một ý nghĩ lạ kỳ. Không hiểu sao tôi nhận thấy có một ảo giác vô cùng khó chịu: trong tôi như có hai con người một lúc. Một phía là con người được nuông chiều, có cuộc sống tràn đầy hạnh phúc, và phía bên kia là một người đàn bà luôn luôn bất mãn với mọi thứ trên đời. Tôi không sao phân tích, lý giải được và không hiểu lý do nào đã đưa tôi đến chỗ phân tâm đó. Vì tôi biết là người ta không bao giờ hiểu rõ được chính mình nên đã quyết định phải đi hỏi một nhà chuyên môn hoặc là nam hoặc là nữ. Nhiều tuần qua, tôi lưỡng lự giữa một thầy thuốc chuyên khoa thần kinh và một người có năng khiếu thấu thị. Cuối cùng tôi đã chọn giải pháp thứ hai, và sau khi tìm hiểu, tôi đã đến đây vì danh tiếng bà thật lớn. Vậy bà có thể nói về tôi ra sao?
− Bà muốn xem bằng cách nào? Bã cà phê, quả cầu pha lê, những lá bài đặc biệt hay là cỗ bài thường?
− Tôi nghĩ là cỗ bài thường có thể phát lộ ra những đều dễ hiểu hơn đối với tôi. Xin thú thật tôi chỉ là một người đàn bà trần tục, lần đầu tiên đến hỏi một nhà ngoại cảm, bà có tin như vậy không?
− Tại sao lại không? Bây giờ, xin bà cho một vài phút thật yên lặng.
Sau khi trang bài với một sự khéo léo và cử chỉ thật trang nhã mà chỉ những người chuyên nghiệp lâu năm trong nghề mới có, Nadia nói bằng một giọng thật dịu dàng và bình tĩnh:
− Bà làm ơn đảo bài giúp. Cám ơn.
Sau khi rải úp hết cỗ bài trên mặt bàn, nàng bắt đầu lật ngửa từng con một, chậm rãi, vừa làm vừa ngắm kỹ. Người khách nữ, lặng thinh, nhìn nàng làm, đôi mắt lạnh lùng chẳng tỏ một vẻ gì tò mò hay nghi hoặc. “Một vài phút im lặng” đòi hỏi có vẻ như kéo dài trong không khí tĩnh mịch của căn phòng. Cắm cúi trên cỗ bài, nhà nữ ngoại cảm có một vẻ gì như ngơ ngác… Cuối cùng nàng ngẩng đầu lên nhìn thẳng vào mắt vị khách.
− Đúng là cuộc đời của bà không đơn giản chút nào. Chính vì thế mà bà có một cuộc sống kép.
− Bà nhìn thấy cái đó như thế nào?
− Không có gì quan trọng. Nhưng đáng tiếc, lại đúng như vậy. Cuộc sống kép đó, sở dĩ tồn tại là do ý muốn của bà, nếu không muốn nói là bà thích như thế. Nhưng rồi bà sẽ thấy nặng nề và cuộc sống kép được nảy sinh ra đó làm cho bà ngày càng không chịu nổi.
Những nét nổi trội trong cá tính của bà, chắc chắn là có thể đổi thay do ảnh hưởng ngoại lai, thoạt đầu tiếp xúc chẳng dể ưa chút nào. Xin đừng giận vì đã nói thẳng, nhưng tôi bắt đầu nhận thấy bà là một người không sợ những đều nói lên sự thật. Rõ ràng là vì tiếng tăm của tôi, nói lên tất cả không úp mở điều gì, mà bà đã tìm đến tôi.
− Đúng như vậy. Xin bà cứ nói tiếp đi.
− Vậy thì nét chủ yếu của tính cách đó là tính vị kỷ điên khùng xuất phát từ lòng tham không có giới hạn. Xin bà nhớ cho là tham vọng rất có thể là một đức tính lớn lao ở một người phụ nữ thông minh biết coi tất cả mọi phương tiện là tốt miễn là nó mang đến cho mình sự thành đạt.
− Điều bà nói đó không có gì làm cho tôi mếch lòng cũng chẳng làm cho tôi ngạc nhiên. Đúng, tôi rất muốn thành đạt! Phải chăng đó là tội lỗi? Có người đàn bà nào là không mơ tưởng đạt tới một cái gì đó, dù là trên bình diện tình cảm hoặc trên bình diện vật chất? Trên bình diện thứ hai này, hình như chính bà, Phu nhân Nadia nổi tiếng mà tất cả mọi người đều trầm trồ, cũng không phải dở về mật tháo vát? Vậy thì sao lại phải lớn tiếng chê trách?
− Tôi chẳng chê trách gì ở bà, thưa bà. Tôi chỉ nhận xét vậy thôi. Khách của tôi muốn làm gì tùy ý: cái đó không can dự gì đến tôi cả. Vai trò của tôi lúc nào cũng giới hạn ở chỗ cố gắng tìm hiểu những gì xảy ra hoặc sẽ xảy ra trong cuộc sống của những người tìm đến tôi và mục đích duy nhất là để giúp đỡ họ. Làm sao mà tôi làm được việc đó nếu không chú ý tới những khuynh hướng về tính cách của mỗi con người?
Sau một giây lưỡng lự bà khách nói:
− Tất nhiên là bà có lý, nhưng xin bà hãy hiểu tôi: quan tâm lớn nhất và thực sự là duy nhất của tôi là liệu tôi có đủ can đảm để bảo đảm và duy trì được hạnh phúc của mình bằng bất kỳ giá nào không. Bà có thể nói cho tôi biết chứ?
Nadia không trả lời và lại cúi xuống nhìn ngắm những quân bài vẫn nằm ngửa trên mặt bàn. Phút chờ đợi căng thẳng như vô tận hơn lần trước. Cuối cùng, hầu như không còn bình tĩnh được nữa, bà khách hỏi:
− Nhưng… bà thấy gì trên những quân bài đó?
− Không có gì thêm! Nadia trả lời nhanh gọn và ngẩng đầu lên.
− Sao, không còn gì nữa ư? Tất cả mà bà cho biết chỉ là: tính vị kỷ, lòng tham và trí thông minh. Thế còn… thí dụ như tính dâm đãng chẳng hạn? Tôi có dâm đãng không?
− Tôi nghĩ là không.
− Thật ư? Những người xung quanh tôi không cho là như thế đâu! Thế tôi có phải là một phụ nữ đa tình không? Theo bà tôi rất có thể là một người bất lực hoặc lãm cảm trong tình yêu chăng?
− Tôi xin nhắc lại, thưa bà, tôi chẳng còn thấy vấn đề gì liên quan tới bà nữa.
− Bà nhạo báng tôi đấy ư?
− Tôi chưa từng nhạo báng ai bao giờ. Chẳng lẽ lại bắt đầu là bà? Xin bà hiểu cho là đôi khi – cũng khá hiếm, xin thú thật, nhưng mà có – đôi khi tự nhiên trí óc tôi bất ngờ rối mù lên, như trường hợp chiều nay. Tại sao lại như vậy? Cũng không biết nữa, nhưng tôi có thể đoan chắc với bà: tất cả những đồng nghiệp của tôi, cả nam và nữ đều có những trường hợp như thế. Đúng là hôm nay tôi xem cho rất nhiều người, như vậy cũng có thể là vì quá mệt. Đáng lẽ tôi không nên tiếp bà chiều nay, nhưng vì bà cố nài nên tôi không thể từ chối. Dù là tôi đặt lại vấn đề, làm lại quẻ bài một lần nữa thì kết quả cũng vẫn thế thôi. Vậy thì tốt hơn hết là chẳng nên gắng gượng. Một lần khác xin mời bà tới… Sáng hoặc đầu buổi chiều ngày mai nếu bà thấy thuận tiện. Tôi sẽ tiếp bà chu đáo. Dĩ nhiên là buổi hôm nay bà không phải trả tiền công vì một buổi xem thông thành.
− Mỗi lần xem bà lấy bao nhiêu?
− Tùy độ dài thời gian. Giá cả chúng tôi đã quy định từ lâu: một trăm quan cho nữa tiếng, cả tiếng thì mất hai trăm quan. Tôi nghĩ là hôm nay chúng ta, chẳng còn gì để trao đổi nữa.
Nàng thu lại cỗ bài và xếp vào ngăn bàn.
− Thú thực là tôi hôi thất vọng sau khi được nghe những gì mọi người nói về tiếng tăm của Phu nhân Nadia
− Tôi rất hiều bà. Thôi để lần sau, nếu bà không muốn tới một nơi khác. Chúng ta cứ cho là sự việc vừa qua thật ra thì rất bình thường thôi.
Nàng đứng dậy. Bà khách buộc phải làm theo.
− Xin chào bà – Nadia nói – Xin thứ lỗi cho tôi vì đã không làm cho bà được hài lòng – Tôi rất ân hận.
− Tôi cũng vậy. Không hiểu là tôi có trở lại thăm bà được nữa hay không. Xin tạm biệt.
Khi cánh cửa phía đầu cầu thang được khép lại, tạo nên một sự cách biệt giữa bà khách và nàng, Nadia cảm thấy nhẹ hẳn người như được gạt bõ đi một sự hiện diện đã làm cho nàng không chịu nổi ngay từ phút đầu tiên khi bà khách bước vào phòng. Điều mà nàng không thể nói ra được mới chính là lý do thực sự để nàng chấm dứt mau lẹ cuộc xem: sự thay đổi đột ngột, Mạnh mẽ và không thể nào ngăn được trong tình cảm đối với người khách lạ. Nàng phải nói thác ra là vì bất ngờ đầu óc nàng như bị che phủ không nhìn thấy gì toát ra từ những quân bài, nhưng thực ra nàng đã nhìn thấy những hiện tượng thật khủng khiếp. Không còn nghi ngờ gì nữa là người đàn bà này đã giấu sau bộ mặt xinh đẹp lạnh lùng một tâm trạng đáng sợ.
− Chị ta đi rồi à? – Bà Vêra hỏi.
− Vâng.
− Chị ta có việc gì khẩn cấp cần đến cháu thế?
− Thực ra thì cháu cũng không biết nữa. Vì thế nên cháu cũng chẳng xem được gì cho chị ta, và cũng chẳng lấy tiền công của chị ấy.
− Cháu mắc sai lầm rồi đấy. Nguyên tắc hàng đầu của nghề nghiệp là bắt khách phải trả tiền khi họ quấy rầy mình. Những giờ phút của cháu thật đáng quý, cháu yêu ạ. Nó là vàng là bạc đấy!
− Cháu thà không hành nghề nữa còn hơn là lấy tiền của một người đàn bà như vậy!
− Cháu làm sao thế? Bà thấy cháu thật kỳ cục. Sao khuân mặt cháu lại đăm chiêu thế kia? Chị ta nói gì làm cháu phật lòng chăng?
− Cháu xin nhắc lại là không biết vì sao mà chị ta lại tới đây. Có lẽ vì thế mà làm cháu thấy băn khoăn lo ngại. Cháu có cảm giác là chị ta tới đây để xem cháu làm việc như thế nào hơn là để nghe những gì cháu phát hiện. Điều cháu vừa nói có thể bà cho là ngớ ngẩn, nhưng nếu giả dụ chị ta là mật thám thì cái đó cũng không làm cháu ngạc nhiên!
− Tại sao lại nói tới mật thám với cảnh sát? Cháu đã làm đều gì phạm pháp nào? Hơn nữa một người sang trọng như chị ta thì sao lại có thể là cảnh sát với mật thám được! Có khả năng đó là một người cạnh tranh trong nghề nghiệp, một phụ nữ thuật sỹ không quen biết muốn xem cháu hành nghề ra sao vì đang ghen tức với thành công của cháu?
− Có thể như thế bà ạ. Dù sao chăng nữa đều này cháu đã thấy trong cỗ bài và hiểu được khi nhìn chị ta – đó là một người đàn bà ghê gớm và độc địa. Cháu không nhớ rõ, từ ngày hành nghề, cháu đã có lần nào khó chịu trong khi xem như vậy không. Cháu đã quá mệt và chị ta đã làm cháu rã rời. Thôi, không nói gì tới chị ta nữa, bà nhất trí không?
− Cháu có lý. Hay là chúng ta tới rạp chiếu bóng xem cuốn phim mà mọi người đang ca ngợi? Điều đó có thể làm cháu khuây khỏa.
− Cháu lại muốn đi ngủ bà ạ.
− Nhưng phải ăn đã chứ!
− Cháu không thấy đói.
− Thế ra chị ta đã làm cho cháu không còn muốn ăn nữa hay sao?
− Cháu cũng chẳng biết nữa… Thôi, ngày mai, bà nhé.
Một tuần trôi qua, công việc đã trở lại bình thường. Phu nhân Nadia hầu như quên hẳn người khách lạ mà sự hiện diện của chị ta đã làm nàng thật khó chịu. Vêra, một người bà tốt, sáng suốt và chu đáo thấy là chẳng nên nhắc lại chuyện người đàn bà đó trước mặt cô con gái. Yên tĩnh trở lại… thế rồi bất ngờ, cũng vào ngày giờ của tuần lễ trước, trong khi Nadia đang tiếp người khách cuối cùng – một đại tá về hưu là khách quen nhiều năm – thì bà Vêra bước vào báo:
− Chị ta đã trở lại! Bà phải làm sao đây? Bảo là hôm nay đã hết giờ xem hay là bảo chị ta ngồi đợi?
Rất bình thản, Nadia đáp:
− Cháu đã có linh cảm chị ta sẽ trở lại: đó là một người đàn bà không chịu bó tay thua cuộc. Tốt hơn là cứ tiếp dù chỉ là để biết chính xác xem chị ta muốn gì hoặc chờ đợi gì ở cháu.
− Có lẽ hay hơn cả là từ chối không nhận xem cho chị ta nữa chăng? Cháu hoàn toàn có quyền tự do chọn khách cho mình kia mà.
− Bà chẳng nên nói vậy; chính là khách lựa chọn cháu nên cháu phải tiếp nhận, bất kể họ là ai và người như thế nào. Bà hãy mời chị ta vào đi.
− Nhưng mà, cháu nhớ không… Lần trước, sau khi chị ta đi rồi, cháu đã ở trong trạng thái tồi tệ đến nỗi bỏ cả bữa cơm tối! Tiếp người đó làm gì, nếu cháu thấy chị ta làm ảnh hưởng xấu tới sức khỏe của mình?
− Không những chị ta gây ảnh hưởng xấu tới tinh thần và sức khỏe của cháu và còn cho cả mọi người nữa. Nhưng bà hãy yên tâm: hôm nay cháu thấy người sảng khoái và không quá mệt mỏi như hôm trước. Cháu sẵn sàng tiếp chị ta.
Bà khách trẻ bước vào phòng. Cũng như lần trước: xinh đẹp, lịch sự và trang nhã có thể còn hơn cả lần trước nữa nhưng thái độ thì lạnh băng. Vẫn bằng cái giọng trầm buồn, chị ta nói:
− Bà có ngạc nhiên không khi tôi trở lại mặc dù bà đã cho tôi một cảm giác chán ngán về cái gọi là năng khiếu thấu thị đặc biệt của bà?
− Không có gì làm tôi ngạc nhiên cả, thưa bà… Bây giờ bà muốn biết về vấn đề gì?
− Vẫn là vấn đề cũ thôi: liệu tôi có đủ năng lực để đảm bảo hạnh phúc của mình trọn vẹn không?
− Và bằng bất cứ giá nào? Cái này tôi hiểu. Tôi biết là không phải bà không có vấn đề gì tiếp nữa. Nhưng xin bà hãy cho biết: bà đặt vấn đề này dai dẳng và cũng quyết tâm chờ một lời giải đáp, phải chăng là vì từ trước tới nay, bà chưa bao giờ cảm thấy hạnh phúc?
− Đúng là không giấu được bà đều gì. Thực ra thì tôi cũng đã có một hình thái hạnh phúc nào đó và tôi cảm thấy rất rõ là dưới con mắt của những người xung quanh cũng như tất cả những người quen biết thì tôi là một người đàn bà có một cuộc sống đầy đủ. Song ở giữa cái bề ngoài giả dối và thực sự còn có một khoảng cách đáng kể… Xin bà hãy nói cho tôi rõ là cái hình thái hạnh phúc tương đối đó có cho phép tôi thành tựu hoàn toàn mà tôi hằng mong ước mà tôi có quyền được hưởng không?
− Chúng ta lại sử dụng cỗ bài chứ?
− Vâng, tôi tin ở những quân bài.
Với bàn tay thành thạo như máy, cỗ bài được trang kỹ, được khách trộn, đảo… rồi bà chủ trịnh trọng rải úp từng quân lên mặt bàn. Khi bắt đầu lật lên những quân bài đầu tiên, nhà nữ ngoại cảm không kìm được, phải thốt lên:
− Đúng y như lần đầu!
− Bà có trí nhớ tốt thật đấy!
− Cả bà cũng vậy, thưa bà, vì bà cũng nhớ những quân bài lật lên hôm nọ.
Lại yên lặng cho đến lúc tất cả các quân bài đều được lật lên. Lại một lần nữa, Nadia như bị cuốn hút, nhìn ngắm thực kỹ nhưng thật ra, nàng đã nhìn thấy rõ trong thứ tự sắp xếp các quân bài tất cả những gì cần biết: so với lần trước cũng chẳng có gì thêm đáng kể về bản chất đích thật của người khách lạ. Và cũng chính vì “nhìn thấy” những cái đó mà nàng cảm thấy sự khó ở dâng lên trong người giống như lần trước. Nhưng lần này nàng kiên quyết đấu tranh với mình để tỏ rõ cho kẻ lại đến thách thức là nàng khỏe, rất khỏe để người ta không thể coi thường một Phu nhân Nadia… Và nàng nói:
− Tôi sẽ không nói lại về những nét nổi bật trong tính cách mà hôm nọ tôi đã phát hiện với bà – mà cũng không biết đó có phải là một phát hiện không vì chính bà cũng biết rõ chẳng kém gì tôi? – Tôi vẫn thấy y nguyên trong quẻ xem hôm nay… Tôi còn thấy, và đều này chắc làm cho bà thích thú hơn nhiều, những lộn xộn phức tạp về mặt tình cảm hiện lên thật rõ ràng. Trong quẻ của bà có hai người đàn ông: một người là chồng và một người là nhân tình. Người chồng thì đang bị đe dọa, cái chết đang lượn lờ xung quanh.
− Bà không muốn nói là tôi có thể chịu trách nhiệm về cái chết đó sao?
− Không đâu! Nhưng hầu như chắc chắn nếu sự việc đó xảy ra thì bà cũng không phiền muộn gì lắm.
− Tôi thấy bà thật nghiêm khắc đối với tôi! Thì cứ nói ngay là bà khinh bỉ tôi đi!
− Người ta chỉ coi thường những kẻ thiếu ý chí, và những kẻ này thường đáng được quan tâm. Đó không phải là trường hợp của bà: bà là một nhân vật cực kỳ thích thú một kiểu người mà theo tôi thì khá là nguy hiểm.
− Thế là cuối cùng bà đã thẳng thắng với tôi! Bà đã bắt đầu làm tôi ham thích. Và cứ cho tôi là một người đàn bà đáng sợ thì bà có nhìn thấy một kết thúc khả quan có lợi cho tôi về vấn đề hôn nhân không?
− Tại sao lúc nào bà cũng vơ tất cả vào mình như vậy?
− Cũng như số đông những người đến nhờ bà xem về tương lại hậu vận, trước tiên tôi phải quan tâm đến bản thân đã, sau đó mới đến người khác… Đó cũng là bình thường thôi phải không?
− Hãy nói là rất đời thường. “Từ tâm đúng nhất là bắt đầu từ…”
− Chẳng cần phải viện ngữ làm gì, nhà ngoại cảm! Chúng ta hãy trở lại công việc: cuối cùng, thì tôi thắng hay bại?
− Đúng ra thì bà phải thắng nếu ở cuối quẻ bài nghĩa là ở giai đoạn ***t không có con Đầm cơ, nó chưa hẳn đã lọt vào trong đời sống của bà nhưng đã xuất hiện thật bất ngờ đến nỗi tôi không sao lý giải được. Một người đàn bà có nhiều dấu hiệu là một con người nguy hiểm.
− Hơn cả tôi ư? Điều này làm tôi ngạc nhiên và có đôi phần thích thú.
− Mỗi người đều tìm thấy niềm vui thích ở nơi nào có thể…
− Tóm lại là tình địch phải không?
− Không hẳn như bà hiểu: không phải là một người có nhiều tham vọng tầm cỡ như bà, nhưng đúng hơn là một người phụ nữ đa tình. Có bao giờ bà nghĩ là một phụ nữ đa tình và chân thành đôi khi tỏ ra đáng sợ hơn là một người đàn bà chỉ nghĩ đến việc sử dụng những phương tiện xấu xa nhất để đạt tới mục đích không?
− Bà Nadia thân mến, tôi thấy mình có sai lầm lớn khi đánh giá thấp khả năng của bà. Tôi càng hiểu rõ những lời khen ngợi của khách hàng đối với bà quả là xứng đáng. Tôi chưa biết những lời bà đoán về tôi đúng đến mức nào, nhưng đã có giá trị thật độc đáo. Vậy người nào trong hai người đàn ông hiện diện trong cuộc sống của tôi mà con Đầm cơ tìm mọi cách để chiếm đoạt: người chồng hay nhân tình?
− Vì người đàn bà đó xuất hiện, nên có thể người này hoặc người kia bị chinh phục… Đó là chưa nói có thể cả hai.
− Nguy hiểm đến thế kia ư? Liệu tôi có biết mụ ta không?
− Chưa đâu.
− Công việc của tôi sẽ khó khăn hơn vì trước hết tôi phải chiến đấu với mụ này đã, đúng không?
− Hôm nay thế là đủ. Tôi sẽ trở lại. Phải thanh toán cho bà bao nhiêu đây?
− Tôi đã nói với bà rồi: một trăm phrăng cho nửa giờ.
− Đây xin gởi bà gấp đôi. Nếu bà nói cho biết nhiều đều quan trọng nữa thì tôi sẽ chi thêm gấp bội.
− Ồ, xin bà hiểu cho là việc quan trọng duy nhất là làm sao cho khách hàng được hài lòng.
− Chắc tình huống này làm bà thích thú… Bà làm tôi thấy háo hức đó, bà Nadia ạ – Xin hẹn gặp lại.
− Tôi sẵn sàng phục vụ bà.
Sau khi người khách lạ, có dấu hiệu để trở thành một vị khách thường xuyên, đi khỏi thì bà Vêra bước vào:
− Thế nào, lần này công việc diễn biến ra sao?
− Đỡ tồi tệ hơn lần trước bà ạ. Nhưng cháu vẫn không thể ưa được người đàn bà này và cháu không sao lý giải nổi tại sao chị ta làm cháu sợ…
− Hình như cháu cũng không quá mệt mỏi như hôm nọ?
− Cháu đã kiềm chế được hệ thần kinh của mình nhưng khi chị ta đứng dậy ra về, cháu thấy sao mà nhẹ nhõm.
− Phải chăng chị ta có chút đồng bóng?
− Rõ ràng có một cái gì đó toát ra từ chị ta. Cháu sợ đó chẳng phải là lành mạnh! Không lúc nào, khi có chị ta trước mặt, mà cháu thấy một lóe sáng của tấm lòng nhân hậu.
− Cháu có tin là chị ta còn trở lại không?
− Chắc chắn chị ta còn đến nhưng cháu xin đoan chắc với bà đó sẽ là lần cuối!
− Ý cháu muốn nói sao?
− Cháu sẽ đòn chị ta về mặt tinh thần. Sau đó thì yên chí: chúng ta sẽ không bao giờ trông thấy chị ta nữa.
− Cháu mà cũng ác tâm như thế ư?
− Với loài sói bà ạ… Nhưng xin bà yên tâm: Với cháu, đó chỉ là nhất thời chứ không tồn tại lâu dài như ở chị ta.
− Cháu có nhận thấy sau khi chị ta ra về có cái gì phảng phất ở đây không?
− Cái gì vậy nhỉ?
− Mùi thơm hắc ở chị ta tỏa ra thấm vào tất cả căn phòng làm nghẹt thở.
− Bà nói đúng: y như là mùi chết ***c. Phải mau mau thông khí! Mở hết cửa sổ ra bà ạ!
Bà khách trẻ chẳng đợi đến một tuần mà hai ngày sau đã trở lại, vẫn bí hiểm và thanh lịch. “Ít ra đó cũng là một phụ nữ – bà Vêra nghĩ thầm – đặt cho mình cái đích tối cao là quyến rũ. Và chị ta có thể đạt được, bằng cách của mình! Một người đàn bà đẹp và độc ác thường làm mê say bọn đàn ông: họ bị khêu gợi, bị kích động! Cuộc chinh phục càng khó khăn, họ càng lăn xả vào để tranh đoạt cho kỳ được mới thôi. Nhưng với người đàn bà này, tất cả bọn họ đã lầm. Cả người chồng không thành công trong cuộc tình gắn bó, cả nhân tình lăm le muốn chiến cho riêng mình và còn bao nhiêu người khác nữa. Chị ta mạnh hơn họ. Người độc nhất thắng được chị ta – quẻ bài đã chỉ rõ – đó là một phụ nữ đa tình đích thực với vẻ ngoài vui tươi và bình thản biết nắm đúng thời cơ, biến thành một con hổ và bẻ gãy xương sườn con báo đen kia”.
Bằng giọng lúc nào cũng dịu dàng, nàng hỏi khách:
− Nào, hôm nay bà muốn biết điều gì?
Câu trả lời có ngay tức khắc và là một câu hỏi:
− Liệu tôi có trở thành một quả phụ vào một ngày gần đây?
Lần thứ ba cỗ bài được trang kỹ, được trôn đảo, được rải ra trên mặt bàn và được lật lên trong yên lặng. Lại cúi xuống cỗ bài, Nadia cảm thấy cái nhìn khắc nghiệt của khách đè nặng lên mình, nhưng nàng chẳng quan tâm. Điều chủ yếu là những gì nàng nhìn thấy qua những quân bài. Một quẻ xem ngay tức khắc làm nàng kinh hãi: Cũng là một loại ảo ảnh mà nàng căm ghét và có thể giải đáp ngay không cần có câu hỏi vừa đặt. Hai chữ QUẢ PHỤ hiện lên viết bằng máu trên mặt cát, trong khi khuân mặt người khách trẻ đang cúi nhìn, rạng rỡ một nụ cười y như một người đang thoả mãn với chiến công của mình. Nhưng rất mau lẹ, nụ cười đó biến thành một cái nhếch mép nhăn nhúm và thân hình người đàn bà vụt to phình lên khủng khiếp để biến thành một con quỉ. Tất cả những cái đó hiện ra chỉ khoảnh khắc. Aûo ảnh vụt tang biến. Mặc dù sợ hãi, nhưng Nadia cũng gắn sức để giữ cho được vẻ ngoài thật bình thản. Từ từ ngẩng đầu lên, nàng nhìn chăm chú vào người khách trẻ, nhỏ nhẹ nói:
− Đáng lẽ tôi có thể làm cho bà thỏa mãn bằng một câu trả lời phù hợp với mong muốn của bà nhưng tiếc thay, tôi chẳng nhìn thấy gì hết. Đôi khi những quân bài cũng im lặng.
− Như vậy có nghĩa là tôi sẽ không bao giờ trở thành quả phụ?
− Nếu chuyện xảy ra ngược lại thì mới làm cho tôi ngạc nhiên.
− Một ngày nào đó tôi sẽ lại tới dể cho bà biết rằng bà đã nhầm và chẳng hiểu gì về nghề của mình! Cảm tưởng tốt ban đầu của tôi đối với bà không còn nữa, danh tiếng của bà được đánh giá quá cao, chủ yếu là dựa vào những quảng cáo rùm beng trên báo chí mà bà còn táo tợn trưng cả chân dung có vẻ uốn éo của mình lên để hòng câu khách! Làm như khuôn mặt của bà có thể làm cho mọi người chú ý! Người ta đến hỏi bà về quá khứ, vị lai đâu phải để chiêm ngưỡng vẻ ngoài của bà và duy nhất để nghe bà ăn nói ra sao. Nhưng tiếc thay bà chỉ làm cái việc dối trá đó cũng như các đồng nghiệp của bà! Tất cả những điều bà tưởng khám phá được về tôi thì tôi biết tỏng từ lâu rồi vì chính đó là bản chất của cuộc đời tôi.
− Ít ra thì bà cũng chiêm nghiệm thấy hai đều: tôi chỉ nói lên sự thực và, khi không thấy gì cả thì tôi im lặng… Còn “nhân vật kia” – người đàn bà đó nhất định sẽ xen vào phá hoại dự định của bà, bà thật không ngờ có phải không? Thế mà có đấy! Chính người đó sẽ quấy rầy bà… Duy nhất chỉ vì người đó mà bà không được toại lòng mãn ý. Cho đến lúc này, tôi khẳng định bà sẽ không từ một kế hoạch nào để ngăn chặn bàn tay tội ác của bà ta. Nhưng với bà ta lại là một chuyện khác! Bà ta cũng mạnh không kém gì bà đâu nhưng tôi nhắc lại lần cuối cùng là hoàn toàn không giống như cách hiểu của bà: cái sức mạnh sở dĩ bà ta có được là nhờ vào một tình yêu đích thực trong tim mà ở bà thì không bao giờ có. Tất nhiên, khi gặp bà, một người đàn ông có thể bị mê mẩn vì ham muốn nhưng rồi mau ***ng được đều hòa vì cái tội duy nhất của bà. Sẽ có hai tình cảm đồng thời xuất hiện: ngờ vực và e ngại… những tình cảm đó không bao giờ chung sống được với tình yêu.
− Tôi phải trả bà bao nhiêu đây?
− Lần này thì không phải trả gì cả. Tôi không muốn nhận tiền của ai một khi họ không được thỏa mãn trong quẻ bói. Xin chào bà.
Vị khách bước ra cửa không nói một lời.
Bà Vêra lại xuất hiện với vẻ băn khoăn:
− Cái gì đã xảy ra vậy? Cháu có nghe tiếng sập cửa của bà ta ở phòng ngoài không?
− Đó là cách lẫn tránh của những kẻ yếu. Họ cứ tưởng gây ra tiếng động mạnh là sẽ cho họ sức mạnh.
− Tại sao vậy? Hôm nọ cháu chả đã nói với bà là người phụ nữ này có thể rất nguy hiểm ư?
Cháu cảm thấy trong người thế nào?
− Khá hơn nhiều bà ạ. Bà cho người khách tiếp theo vào đi.
− Bà nói trước cho cháu hay: bà ta thật xấu xí.
− Ở vẻ ngoài ư? Còn tâm hồn bà thấy sao? Chắc là rất đẹp phải không ạ?
− Cháu là một cô gái lạ kỳ. Nadia bé bỏng ạ.
− Và bà là một người bà đáng kính nhất! Về người đàn bà vừa ra khỏi đây một cách ầm ĩ ấy, cháu có thể nói trước với bà thế này: mặc dù tất cả những lời chị ta nói với cháu, nhưng cháu thực sự ngạc nhiên nếu chị ta trở lại! Đó là đều cháu mong muốn.